0 likes | 2 Views
Trong chu01b0u01a1ng tru00ecnh hu1ecdc tu1eadp Tiu1ebfng Viu1ec7t u2013 Tu1eadp lu00e0m vu0103n u1edf THCS vu00e0 THPT, <br>viu1ec7c lu1eadp luu1eadn trong u0111ou1ea1n vu0103n u0111u01b0u1ee3c u0111u1eb7t ra nhu01b0 mu1ed9t ku0129 nu0103ng cu1ea7n phu1ea3i ru00e8n luyu1ec7n. Ku0129 <br>nu0103ng nu00e0y cu00f3 thu1ec3 u0111u01b0u1ee3c luyu1ec7n ngay trong mu1ed9t cu00e2u, mu1ed9t su1ed1 cu00e2u , mu1ed9t u0111ou1ea1n vu0103n hay <br>trong cu1ea3 mu1ed9t bu00e0i vu0103n. Tuy vu1eady, trong cu00e2u do dung lu01b0u1ee3ng khu00f4ng lu1edbn nu00ean viu1ec7c lu1eadp <br>luu1eadn u0111u01a1n giu1ea3n, thu01b0u1eddng chu01b0a thu1ec3 hiu1ec7n u0111u1ea7y u0111u1ee7 bu1ea3n chu1ea5t.<br>
E N D
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THẠCH THẤT TRƯỜNG THCS THẠCH HOÀ. SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM RÈN LUYỆN KĨ NĂNG VIẾT ĐOẠN VĂN NGHỊ LUẬN VĂN HỌC CHOHỌC SINH LỚP 9. NGƯỜI VIẾT: - Họ và tên: Ngô Thị Nghị - Sinh ngày 30 tháng 12 năm 1969. - Quê quán: Tản Hồng – Ba Vì - Hà Nội. - Đơn vị công tác: Trường THCS Thạch Hoà - Thạch Thất - Hà Nội - Chức vụ: Giáo viên –Chủ tịch CĐCS - Trình độ chuyên môn: ĐHSP Ngữ văn - Trình độ Chính trị: Trung cấpChính trị - Hành chính. - Ngày vào Đảng: 29 tháng 3 năm 1999. - Khen thưởng: Gi¸o viªn giái cÊp huyÖn c¸c N¨m häc: 1996 -1997, 1997 - 1998, 1999 - 2000. Lao ®éng tiÕn cÊp huyÖn c¸c N¨m häc: 2007 - 2008, 2008 - 2009, 2009 - 2010, 2010 - 2011. - Kỉ luật: Không 1 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. D.TÀI LIỆU THAM KHẢO 1.Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn 8; 2.Sách giáo khoa và Sách giáo viên Ngữ văn 9; 3. Ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ văn –của các tác giả: Nguyễn Thị Nương – Chu Thị Lý –Trần Thị Loan. 4. Ôn tập kiến thức thi vào lớp 10 Ngữ Văn –của các tác giả: Nguyễn Thị Thuận –Nguyễn Lương Hùng –Đoàn Thị Thanh Hương – Nguyễn Ngọc Anh. 5. Luyện tập cách lập luận trong đoạn văn nghị luận cho học sinh phổ thông của các tác giả: Nguyễn Quang Ninh –Nguyễn Thị Ban- Trần Hữu Phong. 2 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG 4 A: ĐẶT VÂN ĐỀ I. Lý do chọn đề tài. 2. Mục đích chọn đề tài. 3. Phương pháp nghiên cứu. 4. Phạm vi –Thời gian thực hiện. B: NỘI DUNG ĐỀ TÀI I. Cơ sở lí luận của vấn đề. 4 5 5 6 7 7 II. Thực trạng tình hình qua khảo sát điều tra. II. Các giải pháp thực hiện. 1. Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh. 2. Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn. 3. Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn cho học sinh. 3.1.Dạng bài tập nhận biết. 10 11 11 12 18 18 3.2. Dạng bài tập vận dụng. 3.2.1. Viết câu chủ đề cho đoạn văn. 3.2.2. Viết đoạn văn dựa vào câu chủ đề cho sẵn. 3.2.3. Viết đoạn văn không cho sẵn câu chủ đề. 24 24 27 32 35 3.2.4. Viết đoạn văn, với yêu cầu cụ thể về hình thức, kèm theo các yêu cầu về liên kết câu, ngữ pháp. IV. Kết quả. 39 C: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 41 3 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. A. ĐẶT VẤN ĐỀ I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong chương trình học tập Tiếng Việt –Tập làm văn ở THCS và THPT, việc lập luận trong đoạn văn được đặt ra như một kĩ năng cần phải rèn luyện. Kĩ năng này có thể được luyện ngay trong một câu, một số câu , một đoạn văn hay trong cả một bài văn. Tuy vậy, trong câu do dung lượng không lớn nên việc lập luận đơn giản, thường chưa thể hiện đầy đủ bản chất. Còn trong một đoạn văn, một văn bản hoàn chỉnh, việc lập luận sẽ phong phú đa dạng hơn. Do đó việc hình thành kĩ năng lập luận trong đoạn văn, trong văn bản cho học sinh là điều rất quan trọng đặc biệt đối với học sinh lớp 9, làm cơ sở để các em học lên bậc THCS. Ở bậc Trung học cơ sở, trong phân môn Tập làm văn, học sinh đã học về đoạn văn và các thể văn nghị luận.Kiến thức về đoạn văn các em được tìm hiểu sơ lược từ lớp 6 (Tiết 20: Lời và đoạn văn tự sự), lớp 7(Tiết 99: Luyện tập viết đoạn chứng minh, giải thích) và tăng cường hơn ở lớp 8, lớp 9. Lớp 8 có 4 tiết :Tiết 10, tiết 76, tiết 100, 102 với các kiến thức kĩ năng về xây dựng đoạn trong văn bản, viết đoạn trong văn thuyết minh, xây dựng và trình bày luận điểm. Lên lớp 9, các em được học về liên kết câu và liên kết đoạn văn ( Tiết 102, 110). Dạng văn nghị luận các em cũng được học từ lớp 7, khái quát về đặc điểm văn nghị luận, phép lập luận chứng minh, giải thích; Lớp 8 học tiếp văn nghị luận, về cách nói và viết bài văn nghị luận có sử dụng yếu tố biểu cảm, tự sự và miêu tả. Ở lớp 9 đã có sự kế thừa, nâng cao kiến thức về văn nghị luận. Các em học văn nghị luận xã hội (nghị luận về một sự việc hiện tượng đời sống, nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí) và nghị luận văn học (nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ). Có thể nói việc tìm hiểu về đoạn văn, về văn nghị luận có một hệ thống từ thấp đến cao phù hợp với lứa tuổi và cấu trúc của chương trình Ngữ văn THCS. 4 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn nói chung, môn Ngữ văn lớp 9 nói riêng, tuy giáo viên đã giúp học sinh nắm các yêu cầu về đoạn văn, cách làm bài nghị luận ở từng kiểu bài, nhưng kĩ năng viết đoạn, viết bài nghị luận của học sinh chưa thật thành thạo. Các em còn lúng túng, hành văn chưa mạch lạc, chặt chẽ, nhất là đối với đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống. Trong quá trình làm bài kiểm tra ở lớp cũng như ở kiểm tra học kì, thi tuyển vào lớp 10 ở môn ngữ văn nhiều năm qua, học sinh làm bài văn nghị luận về tác phẩm văn học còn rất nhiều hạn chế. Bài làm của học sinh thường sơ sài, chung chung, lan man, vừa thừa, vừa thiếu, có khi xa đề, lạc đề. Có bài chỉ viết được 7 đến 8 dòng là hết, có nhiều em không biết xây dựng luận điểm…Kết quả thi vào lớp 10 môn Ngữ văn của trường THCS Thạch Hoà nhiều năm qua đều đứng tốp cuối trong huyện: Thi học sinh giỏi văn lớp 9 thì không có học sinh đạt giải, học sinh vào đội tuyển. Thực trạng ấy làm cho BGH nhà trường phải trăn trở, suy nghĩ. Là giáo viên dạy văn tôi càng buồn, lo lắng về thực trạng này. Hai năm học vừa qua được giao trách nhiệm giảng dạy môn Ngữ văn lớp 9 và trực tiếp ôn thi cho các em vào lớp 10, tôi luôn mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học văn nói chung, rèn luyện kĩ năng tạo lập văn bản nói riêng cho các em. Vì vậy tôi đã thực hiện đề tài “Rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. II. MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI: Mục đích của tôi khi thực hiện đề tàinhằmgóp phần củng cố kĩ năng tạo lập văn bản, nâng cao chất lượng dạy và học môn Ngữ văn lớp 9, nâng cao kết quả thi vào 10 và thi học sinh giỏi môn Ngữ văn của trường THCS Thạch Hoà. III. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: - Nghiên cứu những tài liệu có liên quan đến đoạn văn, cách lập luận, trình bày nội dung đoạn văn. 5 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. - Điều tra khảo sát năm bắt tình hình thực tế. - Tiến hành thực nghiệm trong các tiết dạy. IV. PHẠM VI VÀ THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: - Đề tài được tôi thực hiện tại trường THCS Thạch Hoà trong hai năm học: 2010 -2011 và 2011 –2012 với đối tượng thực hiện là học sinh lớp 9. - Phạm vi thực hiện: ứng dụng vào các tiết học văn học, tập làm văn, các buổi học bồi dưỡng, phụ đạo buổi chiều và ôn thi vào 10. 6 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. B: NỘI DUNG ĐỀ TÀI: I. CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ: Như chúng ta đã biết: - Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành. Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặcđược lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn. (SGK Ngữ văn 8 tập I, trang 36). Có thể thấy về mặt nội dung, đoạn văn là một ý hoàn chỉnh ở một mức độ nhất định nào đó về logic ngữ nghĩa, có thể nắm bắtđược một cách tương đối dễ dàng. Mỗiđoạn văn trong văn bản diễnđạt một ý, các ý có mối liên quan chặt chẽ với nhau trên cơ sở chung là chủđề của văn bản. Mỗiđoạn trong văn bản có một vai trò chức năng riêng và được sắp xếp theo một trật tự nhấtđịnh: đoạn mởđầu văn bản, các đoạn thân bài của văn bản (các đoạn này triển khai chủđề của văn bản thành các khía cạch khác nhau), đoạn kết thúc văn bản. Mỗiđoạn văn bản khi tách ra vẫn có tính độc lập tương đối của nó: nội dung củađoạn tương đối hoàn chỉnh, hình thức củađoạn có một kết cấu nhấtđịnh. Về mặt hình thức, đoạn văn luôn luôn hoàn chỉnh. Sự hoàn chỉnhđó thể hiệnở nhữngđiểm sau: mỗiđoạn văn bao gồm một số câu văn nằm giữa hai dấu chấm xuống dòng, có liên kết với nhau về mặt hình thức, thể hiện bằng các phép liên kết; mỗiđoạn văn khi mởđầu, chữ cái đầuđoạn bao giờ cũngđược viết hoa và viết lùi vào so với các dòng chữ khác trong đoạn. 7 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Để trình bày một đoạn văn cần phải sử dụng các phương pháp lập luận. Lập luận là cách trình bày luận cứ dẫn đến luận điểm. Lập luận phải chặt chẽ hợp lí thì đoạn văn, bài văn mới có sức thuyết phục. Trong văn bản, nhất là văn nghị luận, ta thường gặp nhữngđoạn văn có kết cấu(cách lập luận) phổ biến: diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp... bên cạnhđó là cách lập luận suy luận nhân quả, suy luận tương đồng, suy luận tương phản, đòn bẩy, nêu giả thiết… - Đoạn diễn dịch là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể. Câu chủđề mang ý nghĩa khái quát đứngởđầuđoạn, các câu còn lại triểnkhai những nội dung chi tiết cụ thể ý tưởngcủa chủđềđó. Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết. - Đoạn quy nạp là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chi tiết, cụ thểđến ý khái quát. Câu chủ đề nằmở cuốiđoạn. Các câu trên được trình bày bằng thao tác minh họa, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung. - Đoạn tổng - phân - hợp là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mở đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kếtđoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai triển được thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từđóđề xuất nhậnđịnhđối với chủđề, tổng hợp lại, khẳngđịnh thêm giá trị của vấnđề. Khi viết đoạn văn tổng - phân - hợp, cần biết cách khái quát, nâng cao để tránh sự trùng lặp của hai câu chốt trong đoạn. - Đoạn lập luận tương đồng là cách trình bày đoạn văn có sự so sánh tương tự nhau dựa trên một ý tưởng: so sánh với một tác giả, mộtđoạn thơ, mộtđoạn văn,… có nội dung tương tự nội dung đang nói đến. - Đoạn so sánh tương phản là đoạn văn có sự so sánh trái ngược nhau về nội dung ý tưởng: những hình ảnh thơ văn, phong cách tác giả, hiện thực cuộc sống,…tương phản nhau. 8 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. - Đoạn lập luận theo suy luận nhân quả: Có 2 cách: Trình bày nguyên nhân trước, chỉ ra kết quả sau.Hoặc ngược lại chỉ ra kết quả trước, trình bày nguyên nhân sau. - Đoạn lập luận đòn bẩy là cách trình bàyđoạn văn mởđầu nêu một nhận định, dẫn một câu chuyện hoặc nhữngđoạn thơ văn có nội dung gần giống hoặc trái với ý tưởng ( chủđề củađoạn) tạo thành điểm tựa, làm cơ sởđể phân tích sâu sắc ý tưởngđề ra. Các câu trong đoạn văn cũng như các đoạn trong bài phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung cũng như hình thức: - Về nội dung: + Các đoạn văn phải phục vụ chủ đề chung của văn bản, các câu phải phục vụ chủ đề chung của đoạn văn.( Liên kết chủ đề). + Các đoạn văn và các câu phải được sắp xếp theo trình tự hợp lí( Liên kết lôgic). - Về hình thức: Các câu, các đoạn văn phải được liên kết với nhau bằng một số biện pháp chính như: + Phép lặp: Lặp lại ở đầu câu đứng sau từ ngữ đã có ở câu trước. + Phép thế: Sử dụng ở câu đứng sau từ ngữ có tác dụng thay thế từ ngữ đã có ở câu trước. + Phép nối: Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ biểu thị quan hệ với câu trước. + Phép đồng nghĩa, trái nghĩa và liên tưởng:Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữđồng nghĩa, trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã cho ở câu trước. ( SGK Ngữ văn 9 tập 2 trang 43). Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm này.Bên cạnh đó tôi cũng khảo sát thực trạng kĩ năng viết đoạn văn của học sinh lớp 9 ở trường THCS Thạch Hoà để có giải pháp thực hiện hợp lí, hiệu quả. 9 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội. SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. II. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH QUA KHẢO SÁT ĐIỀU TRA: Vào đầu các năm học, nhà trường bao giờ cũng khảo sát chất luợng học tập các môn Toán, Ngữ văn để phân loại học sinh, có kế hoạch bồi dưõnghọc sinh khá giỏi, phụ đạo học sinh yếu kém. Kết hợp với kết quả khảo sát chất luợng, trong các giờ học đầu năm học, tôi thường kiểm tra kĩ năng viết đoạn của học sinh qua các bài tập nhỏ sau các tiết văn học bằng cách cho học sinh viết đoạn văn nêu cảm nhận về tác phẩm, nhân vật, chi tiết trong tác phẩm. Một số bài tập tôi dùng để kiểm tra: + Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em sau khi học văn bản? + Em hãy viết đoạn văn diễn dịch trình bày cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ? + Chi tiết cái bóng trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là chi tiết rất đặc sắc. Hãy viết đoạn văn khoảng 10 câu theo lối diễn dịch trình bày cảm nhận của em về chi tiết đó? * KẾT QUẢ KHẢO SÁTCỤ THỂ TRƯỚC KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI Ở LỚP 9 TRƯỜNG THCS THẠCH HOÀ NĂM HỌC 2011 – 1012 LÀ: KẾTQUẢXẾPLOẠI Tổng số Khối lớp Giỏi Khá Trung bình Yếu học sinh TS % TS % TS % TS % 9A 38 2 5,2% 7 18,4% 18 47,4% 11 29% 9B 33 1 3% 6 18,2% 16 48,5% 10 30,3% Qua kết quả khảo sát có thể nhận thấy số học sinh không có kĩ năng viết đoạn còn nhiều, số học sinh có kĩ năng viết đoạn thành thạo còn ít. Trên bài làm của hầu hết các em thể hiện việc nắm khái niệm đoạn văn, từ ngữ chủ đề, câu chủ đề trong đoạn văn, cách trình bày đoạn văn còn lơ mơ. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.10 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Các em không biết trình bày đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về nội dung cũng như hình thức. Nhiều bài viết lủng củng sơ sài, lập luận không mạch lạc chặt chẽ. Các ý lộn xộn, không có lớp có lang, ý lớn ý nhỏ không theo trình tự hợp lí. Đầu đoạn văn không viết hoa lùi đầu dòng, các dòng khác thò ra thụt vào tuỳ tiện. Có thể nói kĩ năng làm văn, đặc biệt là kĩ năng viết đoạn của học sinh còn nhiều hạn chế. Do vậy để khắc phục hạn chế của học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học đòi hỏi giáo viên phải có những giải pháp hợp lí. III. GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: 1. Giải pháp 1: Củng cố kiến thức về đoạn văn cho học sinh: 1.1. Khái niệm: - Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chỗ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành. - Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ được dùng làm đề mục hoặcđược lặp lại nhiều lần ( thường là chỉ từ, đại từ, các từ đồng nghĩa) nhằm duy trì đối tượng biểu đạt. Câu chủ đề mang nội dung khái quát, lời lẽ ngắn gọn, thường đủ hai thành phần chính và đúng ở đầu hoặc cuối đoạn văn. Các câu trong đoạn văn có nhiệm vụ triển khai và làm sáng tỏ chủ đề của đoạn. (SGK Ngữ văn 8 tập I, trang 36). 1.2. Các cách trình bày nội dung trong đoạn văn. - Cách diễn dịch: là cách trình bày ý đi từ khái quát đến cụ thể. Câu chủđề mang ý nghĩa khái quát đứngởđầuđoạn, các câu còn lại triểnkhai những nội dung chi tiết cụ thể ý tưởngcủa chủđềđó. Các câu triển khai được thực hiện bằng các thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận; có thể kèm những nhận xét, đánh giá và bộc lộ sự cảm nhận của người viết. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.11 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. -Cách qui nạp: là cách trình bày ý ngược lại với diễn dịch - đi từ các ý chi tiết, cụ thểđến ý khái quát. Câu chủ đề nằmở cuốiđoạn. Các câu trên được trình bày bằng thao tác minh hoạ, lập luận, cảm nhận và rút ra nhận xét, đánh giá chung. - Cách tổng phân hợp: là sự phối hợp diễn dịch với quy nạp. Câu mởđoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo khai triển ý khái quát, câu kếtđoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng. Những câu khai triểnđược thực hiện bằng thao tác giải thích, chứng minh, phân tích, bình luận, nhận xét hoặc nêu cảm tưởng, để từđóđề xuất nhậnđịnhđối với chủđề, tổng hợp lại, khẳngđịnh thêm giá trị của vấnđề. Đó là những kiến thức cơ bản học sinh đã học từ lớp 8. Tôi đã củng cố ngay cho học sinh sau khi vào đầu năm học lớp 9 qua các buổi học phụ đạo buổi chiều.Ngoài ra, tôi cũng mở rộng hơn một số cách trình bày đoạn khác cho học sinh khá giỏi qua các giờ bồi dưỡng học sinhgiỏi như cách suy luận nhân quả, tương đồng, tương phản, đòn bẩy... 2. Giải pháp 2: Hướng dẫn học sinh cách viết đoạn văn: Để viết đoạn văn thành công,cần chú ý tuân thủ các bước: Bước 1: Xác định yêu cầu của đề:Căn cứ vào yêu cầu của đềbài, xác định rõ nội dung cần trình bày trong đoạn là gì? ( Nội dung đó sẽ được “gói” trong câu chủ đề. Và cũng là định hướng để viết các câu còn lại). Nội dung đó được trình bày theo cách nào, có yêu cầu nào khác về hình thức, ngữ pháp. - Ví dụ: Đề 1: Viết một đoạn văn ngắn để nêu lên suy nghĩ của em về những điều người cha nói với con qua khổ thơ sau: “Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục.” (Nói với con –Y Phương) Trong đoạn có sử dụng: Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.12 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. + Lời dẫn trực tiếp. + Phép lặp. (Có gạch chân hoặc chú thích) * Yêu cầu của đề: - Nội dung: nêu lên suy nghĩ của em về những điều người cha nói với con qua khổ thơ... - Hình thức: đoạn văn ngắn. - Yêu cầu ngữ pháp:Lời dẫn trực tiếp, phép lặp. Đề 2: a. Chép thuộc bốn câu đầu của đoạn trích “Cảnh ngày xuân” b. Bằng một đoạn văn quy nạp từ 9 đến 12 câu nêu cảm nhận của em về cái hay của bốn câu thơ vừa chép. Đây là dạng đề thường gặp khi thi Ngữ văn 9 vào 10. * Yêu cầu cần đạt: a. Chép chính xác 4 câu thơ đầu như trong SGK. b. Viết đoạn văn. - Nội dung: cảm nhận của em về cái hay của bốn câu thơ - Hình thức: Đoạn quy nạp, độ dài từ 9 đến 12 câu. Bước 2: Xác định câu chủ đề cho đoạn văn: Câu chủ đề là câu nêu ý của cả đoạn văn, vì vậy đó là câu đặc biệt quan trọng. Khi viết đoạn cần chú ý đọc kĩ đề, xác định yêu cầu của đề, từ đó xác định câu chủ đề. Có những đề không cho sẵn câu chủ đề, có đề cho sẵncâu chủ đề, có những đề yêu cầu sửa một câu có lỗi thành câu đúng và dùng câu đó làm câu chủ đề, có đề lại có phần dẫn ý, dựa vào đó ta có thể xác định được câu chủ đề. Ví dụ 1: Đề 1, đề 2 ở mục a trên là những đề không cho câu chủ đề. Để viết được câu chủ đề, ta phải nắm vững nội dung của đoạn trích đề cho, từ đó xác định câu chủ đề. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.13 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. - Đề 1: Nội dung những câu thơ là lời người cha nói về những đức tính của người đồng mình, ca ngợi đức tính cao đẹp của người đồng mình. => Câu chủ đề có thể viết: “Những câu thơ là lời người chanói với con về đức tính của “người đồng mình” . - Đề 2 : Nội dungđoạn trích:bức họa tuyệt đẹp về khung cảnh thiên nhiên mùa xuân. => Câu chủ đề có thể viết: “Bốn câu thơ là bức họa tuyệt đẹp về khung cảnh thiên nhiên mùa xuân” Ví dụ 2: Đề cho sẵn câu chủ đề: Đề 1: Từ câu chủ đề sau: “Khác với Thúy Vân, Thuý Kiều có vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà cả tài lẫn sắc”. Hãy viết tiếp khoảng 10 câu văn để hoàn thành một đoạn văn theo cách Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp. Đề 2:Viết khoảng 10 câu văn nối tiếp câu mở đoạn sau để hoàn thành một đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp cụ thể: “Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Kiều hiện lên là người con gái thuỷ chung, hiếu thảo, vị tha.” - Với những đề này ta không phải viết câu chủ đề, chỉ việc phát triển ý, trình bày thành các câu phát triển. Ví dụ 3: Đề yêu cầu sửa một câu có lỗi thành câu đúng và dùng câu đó làm câu chủ đề. - Đề 1:Khi viết đoạn văn phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, một bạn học sinh đã viết câu mở đoạn như sau: “Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ vừa là người phụ nữ thuỳ mị nết na, tư dung tốt đẹp lại là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, là người vợ thuỷ chung với chồng, là người mẹ hiền của con chồng”. Chỉ ra các lỗi trong câu văn trên? Hãy viết câu văn sau khi đã sửa lại cho đúng? Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.14 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. - Đề 2: a.Chép lại câu viết dưới đây, sau khi đã sửa hết các lỗi chính tả, ngữ pháp: "Trong truyện "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê bằng những nét đặc xắc trong cách miêu tả nhân vật và cách kể truyện đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, dũng cảm vượt khó khăn gian khổ, hi sinh lạc quan trong cuộc sống chiến đấu của những cô gái thanh niên sung phong trên tuyến đường Trường Sơn". b. Dùng câu văn đă sửa trên làm phần mở đoạn viết tiếp 8 - 10 câu, phần kết đoạn là một câu cảm thán. - Với các đề trên, ta phải đọc kĩ câu văn đã cho để tìm được các lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp, sau đó sửa lại cho đúng để sử dụng câu đó làm câu chủ đề. Ví dụ 4:Đề có phần dẫn ý, dựa vào đó ta có thể xác định được câu chủ đề. - Đề 1: Trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ đã sáng tạo chi tiết cái bóng trên tường rất đặc sắc. Hãy viết đoạn văn khoảng 10 câu theo lối diễn dịch trình bày cảm nhận của em về chi tiết đó. - Đề 2: Nhận xét về đoạn kết trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng đó là một kết thúc có hậu, lại có ý kiến cho rằng đó là kết thúc không có hậu. Hãy viết đoạn văn khoảng 15 câu trình bày suy nghĩ của em về vấn đề này. - Với đề 1: dựa vào phần dẫn ý của đề, ta có thể viết câu chủ đề: “Trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương”, Nguyễn Dữ đã sáng tạo chi tiết cái bóng trên tường rất đặc sắc”. - Với đề 2: Ta có thể viết câu chủ đề: “Nhận xét về đoạn kết trong tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, có ý kiến cho rằng đó là một kết thúc có hậu, lại có ý kiến cho rằng đó là kết thúc không có hậu”. Hoặc“ Kết thúc tác phẩm “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, là một kết thúcvừa có hậulại vừa không có hậu”. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.15 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Bước 3: Tìm ý cho đoạn ( Triển khai ý): Khi đã xác định được câu chủ đề của đoạn văn, cần vận dụng các kiến thức đã học có liên quan để phát triển chủ đề đó thành các ý cụ thể, chi tiết. Nếu bỏ qua thao tác này, đoạn văn dễ rơi vào tình trạng lủng củng, quẩn ý. Ví dụ: Với đề bài: Viết đoạn văn diễn dịch từ 8 đến 10 câu, phân tích 6 câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”. Cần xác định các ý: - Sáu câu thơ cuối miêu tả cảnh chị em Thuý Kiều du xuân trở về. - Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùa xuân: nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang. - Mọi cử động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh. =>Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết. - Cảnh đã có sự thay đổi về thời gian và không gian: Không còn bát ngát, trong sáng, không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần, lặng dần. - Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng. Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. - Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. - Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần nuối tiếc, lặng buồn. “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không thể nói hết. Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở vẻ đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu lắng. Bước 4: Viết các ý thành đoạn văn: Trên cơ sở các ý vừa tìm, viết thành đoạn văn. Căn cứ vào yêu cầu về kiểu diễn đạt để xác định vị trí câu chủ đề và cách lập luận trong đoạn văn. Ngoài ra còn đảm bảo các yêu cầu về ngữ pháp (nếu có). Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.16 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Ví dụ: Với đề trên ( bước 3)cần đặt câu chủ đề ở đầu đoạn văn, sắp xếp các ý viết thành đoạn văn đủ số câu, đánh thứ tự các câu trong đoạn, trình bày thành đoạn văn đảm bảo sự liên kết cả nội dung lẫn hình thức. Sáu câu thơ cuốiđoạn trích “Cảnh ngày xuân”đãmiêu tả cảnh chị em Thuý Kiều du xuân trở về.(1) Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùa xuân, rất êm dịu: ánh nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang. (2) Mọi cử động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh.(3) Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết.(4)Cảnh đã có sự thay đổi về thời gian và không gian: Không còn bát ngát, trong sáng, không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần, lặng dần.(5)Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng.(6)Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người.(7)Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật.(8)Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thầnnuối tiếc, lặng buồn, “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không thể nói hết.(9) Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở vẻ đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu lắng.(10) Trong đoạn trên Câu 1 là câu mở đoạn, nêu ý chủ đề của cả đoạn văn. Các câu còn lại( từ câu 2 đến câu 10), nêu các ý cụ thể, phân tích nội dung, nghệ thuật của sáu câu thơ. Các bước trên là những thao tác cần có để viết được một đoạn văn hoàn chỉnh cả nội dung lẫn hình thức, đáp ứng yêu cầu của đề. Tuy nhiên không phải học sinh nào cũng thực hiện đủ các thao tác trên khi làm bài. Điều này giáo viên phải thường xuyên nhắc nhở để tạo thành thói quen cho học sinh. Đặc biệt để hình thành kĩ năng cho học sinh một cách thành thạo cần tăng cường rèn luyện qua việc thực hành viết đoạn văn cho các em một cách có hệ thống từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.17 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. 3. Giải pháp 3: Rèn luyện kĩ năng dựng đoạn cho học sinh băng các dạng bài tập. 3.1.Dạng bài tập nhận biết: - Mục đích của bài tập là cung cấp cho học sinh các dạng đoạn văn cụ thể, trên cơ sơ đó các em nhận biết được mô hình cấu trúc đoạn, từ ngữ chủ đề, câu chủ đề. Và cao hơn là cách trình bày các luận cứ để dẫn đến luận điểm. Tuỳ từng đối tượng học sinh mà ra bài tập với những yêu cầu nhận biết các đoạn văn trình bày theo cách phổ biến thông dụng hay cách mở rộng, nâng cao. Ví dụ các bài tập 1, 2, 3 dưới đây tôi dùng để triển khai cho học sinh đại trà, các bài tập 4,5,6, 7 dùng cho học sinh khá giỏi. Bài tập 1: Đoạn văn sau là đoạn phân tích tâm trạng của Kiều khi ở Lầu Ngưng Bích. Hãy xác định câu chủ đề, các từ ngữ chủ đề của đoạn văn? Nội dung đoạn văn được triển khai như thế nào? S¸u c©u th¬ ®Çu gîi t¶ hoµn c¶nh c« ®¬n, téi nghiÖp cñaKiÒukhi bị giam ở lầu Ngưng Bích.(1) Hai ch÷ "khãa xu©n" cho thÊy đây thùc chÊt lµ bÞ giam láng. (2) Nµng tr¬ träi gi÷a kh«ng gian mªnh m«ng, hoang v¾ng. (3) C©u th¬ s¸u ch÷, ch÷ nµo còng gîi lªn sù rîn ngîp cña kh«ng gian: "Bèn bÒ b¸t ng¸t xa tr«ng".(4) C¶nh "non xa", "trăng gÇn" nh- gîi lªn h×nh ¶nh lÇu Ng-ng BÝch ch¬i v¬i gi÷a mªnh mang trêi n-íc. (5) Tõ lÇu Ng-ng BÝch nh×n ra chØ thÊy nh÷ng d·y nói mê xa, nh÷ng cån c¸t bôi bay mï mÞt. (6) C¸i lÇu ch¬i v¬i Êy giam mét th©n phËn tr¬ träi, kh«ng mét bãng ng-êi, kh«ng sù giao l-u gi÷a ng-êi víi ng-êi. (7) H×nh ¶nh "non xa", "tr¨ng gÇn", "c¸t vµng", "bôi hång" cã thÓ lµ c¶nh thùc mµ còng cã thÓ lµ h×nh ¶nh mang tÝnh -íc lÖ ®Ó gîi sù mªnh m«ng, rîn ngîp cña kh«ng gian, qua ®ã diÔn t¶ t©m tr¹ng c« ®¬n cña KiÒu. (8) Côm tõ "m©y sím ®Ìn khuya" gîi thêi gian tuÇn hoµn, khÐp kÝn. (9) Thêi gian còng nh- kh«ng gian giam h·m con ng-êi. (10) Sím vµ khuya, ngµy vµ ®ªm, KiÒu "thui thñi quª ng-êi mét th©n". Nµng chØ biÕt lµm b¹n víi "m©y sím, ®Ìn khuya". (11) Nµngđã r¬i vµo hoµn c¶nh c« ®¬n tuyÖt ®èi. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.18 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Mô hình đoạn văn: Câu 1 là câu mởđoạn, mang ý chính củađoạn gọi là câu chủ đề, 10 câu còn lại là những câu triển khai làm rõ ý của câu chủđề. Đây là đoạn văn phân tích có kết cấu diễn dịch. Từ ngữ chủ đề: Kiều, nàng, Ngưng Bích, hoàn cảnh, tâm trạng, cảnh, hình ảnh... 2. Bài tập 2: Đoạn văn sau trình bày nội dung theo cách nào? Chỉ rõ cách trình bày nội dung đoạn văn? “ Chính Hữu khép lại bài thơ bằng một hình tượng thơ: Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo(1). Đêm khuya chờ giặc tới, trăng đã xế ngang tầm súng(2). Bất chợt chiến sĩ ta có một phát hiện thú vị: Đầu súng trăng treo(3). Câu thơ như một tiếng reo vui hồn nhiên mà chứa đựng đầy ý nghĩa(4). Trong sự tương phản giữa súng và trăng, người đọc vẫn tìm ra được sự gắn bó gần gũi(5). Súng tượng trưng cho tinh thần quyết chiến quyết thắng kẻ thù xâm lược(6). Trăng tượng trưng cho cuộc sống thanh bình, yên vui(7). Khẩu súng và vầng trăng là hình tượng sóng đôi trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam bất khuất và hào hoa muôn thuở(8). Chất hiện thực nghiệt ngã và lãng mạng bay bổng đã hoà quyện lẫn nhau tạo nên hình tượng thơ tuyệt tác để đời(9).” Mô hình đoạn văn: Tám câu đầu triển khai phân tích hình tượng thơ trong đoạn cuối bài thơ“Đồng chí”, từđó khái quát vấnđề trong câu cuối– câu chủđề, thể hiện ý chính củađoạn: đánh giá về hình tượng thơ. Đây là đoạn văn phân tích thơ có kết cấu quy nạp. Nội dung phân tích đoạn kết bài thơ“Đồng chí” của Chính Hữu.. 3.Bài tập 3: Đoạn văn dưới đây lập luận theo cách tổng - phân - hợpphân tích khổ thơ đầu bài “Sang thu” của Hữu Thỉnh. Chỉ rõ cách lập luận trong đoạn văn? Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.19 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. “ Ngay từ khổ thơ đầu, Hữu Thỉnh đã mang đến cho người đọc những tín hiệu riêng của mùa thu.(1)Không phải là những rừng phong sắc đỏ, giậu cúc vàng, lá ngô đồng rơi hay ao sen tàn lạnh... như trong thơ cổ. (2)Cũng không phải là màu trời xanh ngắt hay làn nước biếc trong như trong thơ thu Nguyễn Khuyến...(3)Tín hiệu của mùa thu này là làn hương ổi “ phả vào trong gió se”.(4) Phải có “gió se”thì mới có hương thơm nồng đậm thế.(5) Làn gió heo may trong mát với thoáng chớm lạnh đầu mùa như biết thanh lọc, chắt chiu để có được mùi hương ấy.(6)Gió đưa làn hương đi theo khắp nẻo, như để “thông báo” với đất trời, với hồn người một tín hiệu vui: mùa thu đang tới!(7) Chỉ bằng vài nét vẽ, nhà thơ đã nắm bắt, tái hiện được vẻ đẹp mơ hồ, tinh tế của khoảnh khắc giao mùa.(8)” Mô hình đoạn văn: Đoạn văn gốm tám câu: - Câu đầu (tổng): Nêu lên nhậnđịnh khái quát về khổ đầu bài “ Sang thu” của Hữu Thỉnh mang đến cho người đọc những tín hiệu riêng của mùa thu. - Năm câu tiếp ( phân): Phân tích để chứng minh những tín hiệu riêngđó. - Câu cuối (hợp): Khẳng định, nâng cao: chỉ bằng vài nét vẽ, nhà thơđã nắm bắt, tái hiện được vẻ đẹp mơ hồ, tinh tế của khoảnh khắc giao mùa. 4. Bài tập 4: Đoạn văn sau trình bày nội dung theo cách so sánh tương đồng, nội dung nói về hình ảnh“vầng trăng” trong bài “Ánh trăng” của NguyễnDuy. Chỉ rõ cách lập luận trong đoạn văn? “ Tuổi thơ Nguyễn Duy gắn bó với trăng và cả khi trở thành người lính thì trăng vẫn là người bạn tri kỉ: “hồi chiến tranh ở rừng vầng trăng thảnh tri kỉ”.(1) Bằng nghệ thuật nhân hoá, Nguyễn Duy đã khắc hoạ vẻ đẹp tình nghĩa, thuỷ chung của hai người bạn: trăng và người lính, người lính và trăng(2). Cuộc sống trong rừng thời chiến tranh biết bao gian khổ, khó khăn nhưng trăng vẫn đến Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.20 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. với người lính bằng một tình cảm chân thành, nồng hậu, không chút ngần ngại(3). Trăng đến toả ánh sáng dịu mát cho giấc ngủ người chiến sĩ “Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm” ( Hồ Chí Minh) (4). Trăng đến bên người chiến sĩ cùng chờ giặc tới trong những đên khuya sương muối: “Đầu súng trăng treo” ( Chính Hữu)(5). Ánh trăng cùng với người lính qua biết bao năm tháng gian khổ của đất nước để vượt lên mọi sự tàn phá của quân thù: “Và vầng trăng, vầng trăng đất nước Vượt qua quầng lửa, mọc lên cao”. ( Phạm Tiến Duật) (6). Trăng với người lính trong thơ thật gần gũi và gắn bó (7). Đặc biệt, trong thơ Nguyễn Duy ánh trăng đã trở thành một biểu tượng cao đẹp: “ vầng trăng tri kỉ”, “vầng trăng tình nghĩa” (9). Đoạn văn trình bày nội dung bằng cách đoạn văn so sánh mối quan hệ giữa vầng trăng và người lính trong thơ Nguyễn Duy với vầng trăng và người lính trong thơ Hồ Chí Minh,Chính Hữu,Phạm Tiến Duật nhằm nhấn mạnh ý: Trăng với người lính trong thơ thật gần gũi và gắn bó. Từ đó khái quát vấn đề:trong thơ Nguyễn Duy ánh trăng đã trở thành một biểu tượng cao đẹp: “ vầng trăng tri kỉ”, “vầng trăng tình nghĩa”. 5. Bài tập5: Dưới đây là đoạn văn so sánh tương phản, nội dung nói về phẩm chất của con người mớitrong “ Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. Chỉ ra cách lập luận trong đoạn văn? Thực lòng mà nói, giữa bao lo toan hối hả của cuộc sống thường ngày, có khi nào ta dành ra được những phút tĩnh lặng của cuộc đời, để lắng nghe nhịp đập bên trong thầm lặng của cuộc sống. Đọc “ Lặng lẽ Sa Pa”, ta giật mình bởi những điều Nguyễn Thành Long nói tới mà ta quen nghĩ, quen nhìn hời hợt, nông cạn theo một công thức đã có sẵn mà không chịu đi sâu tìm tòi, phát hiện bản chất bên trong của nó: “ Trong cái lặng im của Sa Pa, dưới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.21 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Sa Pa mà chỉ nghe tên, người ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con người làm việc và suy nghĩ” hết mình cho đất nước, cho cuộc sống hôm nay. - Đoạnvăn trên có sự so sánh tương phản: so sánh sự trái ngược trong suy nghĩ hời hợt, nông cạn theo một công thức đã có sẵncủa chúng tavới suy nghĩ sâu xa của Nguyễn Thành Long, so sánh sự tương phản giữa hiện thực cuộc sống: “giữabao lo toan hối hả của cuộc sống thường ngày, ít khi ta dành ra được những phút tĩnh lặng của cuộc đời, để lắng nghe nhịp đập bên trong thầm lặng của cuộc sống” với“những con người làm việc và suy nghĩ” hết mình cho đất nước, cho cuộc sống”. Từ đó làm nổi bật nội dung nói về phẩm chất của con người mới trong Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long. 6. Bài tập 6: a. Đoạn văn sau lập luận theo suy luận nhân quả, nội dung nói về chi tiết Vũ Nương sống lại dưới thuỷcung trong “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ. Chỉ ra câu nêu nguyên nhân, câu nêu kết quả trong đoạn văn. “ Câu chuyện lẽ ra chấm hết ở đó nhưng dân chúng không chịu nhận cáitình thế đau đớn ấy và cố đem một nét huyền ảo để an ủi ta(1). Vì thế mới có đoạn hai, kể chuyện nàng Trương xuống thuỷ cung và sau lại còn gặp mặt chồng một lần nữa(2).” Đoạn văn có kết cấu hai phần, phần trước(Câu 1) trình bày nguyên nhân, phần sau(Câu 2) trình bày kết quả. b.Đoạn văn sau nói về lòng hiếu nghĩa của Kiều trong lúc lưu lạc. Chỉ ra cách lập luận trong đoạn văn? Chính trong hoàn cảnh lưu lạc quê người của nàng ta mới thấy hết được tấm lòng chí hiếu của người con gái ấy(1). Nàng biết sẽ còn bao cơn “ cát dập sóngvùi” nhưng nàng vẫn chỉ lo canh cánhlo cho cha mẹ thiếu người đỡ đần phụng dưỡng vì hai em còn “ sân hoè đôi chút thơ ngây”(2). Bốn câu mà dùng tới bốn điển tích “người tựa cửa”, “ quạt nồng ấp lạnh”, “sân lai”, “ gốc tử(3)”. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.22 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. NguyễnDu đã làm cho nỗi nhớ của Kiều đậm phần trang trọng, thiết tha và có chiều sâu nhưng cũng không kém phần chân thực(4). Mô hình đoạn văn: Ý tưởng củađoạn bình về lòng hiếu của Kiều. Câu 1 nêu kết quả, ba câu còn lại nêu nguyên nhân. 7. Bài tập7: Đoạn văn sau lập luận theo cách đòn bẩy, nội dung nói về hai câu thơ tả cảnh xuân trong “ Truyện Kiều” của NguyễnDu. Chỉ ra cách lập luận của đoạn văn? Thơ cổ Trung Hoa có hai câu thơ tả cảnhmùa xuân đầy ấn tượng: “ Phương thảo liên thiên bích Lê chi sổ điểm hoa(1). Trong“ Truyện Kiều”của Nguyễn Ducũng có hai câu thơ tả cảnh mùa xuân rất đẹp: “ Cỏ non xanh rợn chân trời Cành lên trắng điểm một vài bông hoa”(2). …Tác giả Trung Quốc chỉ nói : “ Lê chi sổ điểm hoa” ( trên cành lê có mấy bông hoa)(3). Số hoa lê ít ỏi như bị chìm đi trong sắc cỏ ngút ngàn(4). những bông lê yếu ớt bên lề đường như không thể đối chọi với cả một không gian trời đất bao la rộng lớn(5). Nhưng những bông hoa trong thơ Nguyễn Du là hoàn toàn khác: “ Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”(6). Nếu như bức tranh xuân ấy lấy phông nền là màu xanh của của cỏ thì những bông hoa lê là một nét chấm phá vô cùng sinh động và tài tình(7). Sắc trắng của bông hoa lê –cái sắc trắng chưa từng xuất hiện trong câu thơ cổ Trung Hoa- nổi bật trên nền xanh tạo ra thanh khiết trong sáng vô cùng(8). Tuy chỉ là một vài chấm nhỏ trên bức tranh nhưng lại là điểm nhấn toả sáng và nổi bật trên bức tranh toàn cảnh(9). Những bông hoa “trắng điểm” thể hiện sự tài tình gợi tả gợi cảm trong lời thơ(10). Câu thơ cũng thể hiện bản lĩnh hội hoạ của Nguyễn Du(11). Hai sắc màu xanh và Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.23 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. trắng hoà quyện với nhau trong bức tranh xuân vừa đẹp vừa dào dạt sức sống đầy xuân sắc, xuân hương(12). Mô hình đoạn văn: Ý tưởng củađoạn văn là bình giảng câu thơ với hình ảnh thơtả cảnh mùa xuân đặc sắctrong Truyện Kiềucủa Nguyễn Du. Câu 3,4,5 phân tích câu thơ cổ Trung Quốc làm điểm tựa để các câu còn lại (câu 6, 7, 8, 9, 10,11,12) làm rõ phân tích làm rõ chủđềđoạnvăn. Với học sinh lớp 9, cách lập luận chủ yếu cần nhận diện là 3 cách diễn dịch, qui nạp, tổng phân hợp còn các cách lập luận khác chủ yếu mở rộng dành cho học sinh khá giỏi, và giúp các em nhận diện cách lập luận trên cơ sở đó tự mình viết được một số dạng đề yêu cầu viết đoạn có sự so sánh giữa hai tác phẩm, hai nhân vật, hai câu thơ, hai hình ảnh thơ... ( Điều này cũng có trong một số đề ôn thi văn 9 vào 10). 3.2. Dạng bài tập vận dụng: 3.2.1. Viết câu chủ đề cho đoạn văn. Trong văn nghị luận, câu chủ đề là câu đặc biệt quan trọng. Khi phân tích đoạn trích hay tác phẩm, câu chủ đề phải nêu được nội dung chính cần phân tích. Viết được câu chủ đề có thể coi là có được chìa khoá để mở vấn đề. Vì vậy, đây là dạng đề theo tôi không kém phần quan trọng trong việc rèn kĩ năng viết đoạn cho học sinh. Với dạng bài này, có thể có một số bài tập cụ thể sau: 3.2.1.1. Cho câu chủ đề viết còn mắc lỗi về ngữ pháp, diễn đạt, yêu cầu học sinh sửa lại cho chuẩn: Ví dụ: bài tập 1: Khi viết đoạn văn phân tích nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, một bạn học sinh đã viết câu mở đọan như sau: Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.24 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. “Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ vừa là người phụ nữ thuỳ mị nết na, tư dung tốt đẹp lại là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, là người vợ thuỷ chung với chồng, là người mẹ hiền của con chồng”. Chỉ ra các lỗi trong câu văn trên? Hãy viết câu văn sau khi đã sửa lại cho đúng? Yêu cầu với bài tập: - Chỉ ra các lỗi trong câu văn: + Câu chủ đề còn dài, ý rườm rà, có ý không lô gíc: là người mẹ hiền của con chồng”. + Cấu trúc câu không hợp lí: Phụ từ “vừa” không bao giờ đi một mình mà phải đi thành cặp: ...vừa...vừa... - Viết lại câu chủ đề: Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm: “ Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ là người phụ nữ thuỳ mị nết na, tư dung tốt đẹp, người conhiếu thảo, người vợ thuỷ chung, người mẹ yêu con tha thiết”. Bài tập 2: a.Chép lại câu viết dưới đây, sau khi đã sửa hết các lỗi chính tả, ngữ pháp: "Trong truyện "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê bằng những nét đặc xắc trong cách miêu tả nhân vật và cách kể truyện đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, dũng cảm vượt khó khăn gian khổ, hi sinh lạc quan trong cuộc sống chiến đấu của những cô gái thanh niên sung phong trên tuyến đường Trường Sơn". b. Dùng câu văn đă sửa trên làm phần mở đoạn viết tiếp 8 - 10 câu, phần kết đoạn là một câu cảm. Yêu cầu của bài tập: a.Sửa lỗi chính tả và lỗi ngữ pháp: Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.25 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Trong truyện "Những ngôi sao xa xôi" của Lê Minh Khuê,bằng những nét đặc sắc trong cách miêu tả nhân vật và cách kể chuyện, tác giả đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, dũng cảm vượt khó khăn gian khổ, hi sinh, lạc quan trong cuộc sống,chiến đấu của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn. b. Viết đoạn:Các câu phát triển: Họ là những cô gái thanh niên xung phong có tâm hồn trong sáng, hay mơ mộng dễ vui nhưng cũng dễ trầm tư. Họ rất nữ tính, thích làm đẹp ngay nơi chiến trường khói lửa. Nho thích thêu thùa. Thao chăm chép bài hát, hay làm dáng. Phương Định thích ngắm mình trong gương, bó gối mơ mộng và thích hát. Đặc biệt họ rất dũng cảm vượt khó khăn, gian khổ, hi sinh, lạc quan trong cuộc sống, chiến đấu. Công việc của họ rất nguy hiểm, đối mặt với thần chết hàng ngày, hàng giờ nhưng họ sẵn sàng nhận việc phá bom mà không cần sự trợ giúp của đơn vị, dám đối mặt với thần chết mà không hề run sợ. Họ luôn có tinh thần trách nhiệm cao với nhiệm vụ, luôn đặt nhiệm vụ lên trên cả tính mạng. Có lúc họ nghĩ đến cái chết khi nguy hiểm kề bên nhưng điều ấy chỉ thoáng qua rất mờ nhạt nhường chỗ cho ý nghĩ liệu bom có nổ? Làm thế nào để những quả bom kia phải nổ? Câu kết đoạn là câu cảm thán: Họ chính là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong cuộc kháng chiến oai hùng của dân tộc! Trong các bài tập trên, bài tập 1 là dạng bài đơn giản được thực hiện ở đầu năm học, còn bài tập 2 có nhiều yêu cầu phức tạp hơn, không chỉ viết câu chủ đề mà là viết cả các câu phát triển, và không phải chỉ có yêu cầu viết đoạn mà còn có cả yêu cầu ngữ pháp kèm theo, vì đây là bài tập được thực hiện vào cuối năm học khi các kĩ năng viết đoạn của học sinh đã cơ bản được củng cố, thành thạo và cần rèn luyện thêm các yêu cầu khác cho quen với dạng đề thi vào 10. 3.2.1.2. Cho đoạn thơ hoặc đoạn văn cần phân tích, yêu cầu học sinh xác định câu chủ đề cho đọan đó. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.26 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Ví dụ: Bài tập 1: Cho đoạn thơ sau: “ Ngày xuân con én đưa thoi Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi Cỏ non xanh tận chân trời Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. ( Trích “Cảnh ngày xuân”- Truyện Kiều –Nguyễn Du). Hãy viết câu chủ đề cho đoạn văn phân tích đoạn thơ trên? Bài tập 2: Khi phân tích sáu câu cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, em sẽ viết câu chủ đề như thế nào? Thực chất yêu cầu viết câu chủ đề cũng chính là yêu cầu xác định nội dung cần viết trong đoạn văn. Muốn viết được câu chủ đề, học sinh phải nắm được nội dung của đoạn thơ, đoạn văn mà đề yêu cầu phân tích. Điều này các em phải tích hợp kiến thức ở cả ba phân môn: Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn. Với bài tập 1, ta có thể viết câu chủ đề: “Bốn câu thơ đầu đoạn trích“Cảnh ngày xuân”( Trích trong Truyện Kiều của Nguyễn Du)là bức họa tuyệt đẹp về khung cảnh thiên nhiên mùa xuân. Hoặc:Chỉ bằng vài nét chấm phá, Nguyễn Du đã vẽ nên bức hoạ tuyệt đẹp về khung cảnh thiên nhiên mùa xuân. Với bài tập 2, ta có thể viết câu chủ đề: “Sáu câu cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, là bức tranh tả cảnh ngụ tình thật đặc sắc”. Hoặc:“Sáu câu cuối đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”, là đỉnh cao của bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình trong Truyện Kiều của Nguyễn Du”. 3.2.2. Viết đoạn văn dựa vào câu chủ đề cho sẵn. Bài tập 1:Từ câu chủ đề sau: “Khác với Thúy Vân, Thuý Kiều có vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà cả tài lẫn sắc”. Hãy viết tiếp khoảng 10 câu văn để hoàn thành một đoạn văn theo cách Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.27 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Gợi ý - Dùng câu chủ đề trên làm câu mở đoạn. - Viết nối tiếp bằng những câu sau: Gợi tả vẻ đẹp của Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng nghệ thuật ước lệ “thu thuỷ” (nước mùa thu), “xuân sơn” (núi mùa xuân), hoa, liễu. Nét vẽ của thi nhân thiên về gợi, tạo một ấn tượng chung về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế. Vẻ đẹp ấy được gợi tả qua đôi mắt Kiều, bởi đôi mắt là sự thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Đó là một đôi mắt biết nói và có sức rung cảm lòng người. Hình ảnh ước lệ “làn thu thuỷ” –làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt. Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” –nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi lông mày thanh tú trên gương mặt trẻ trung. “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” –Vẻ đẹp quá hoàn mĩ và sắc sảo của Kiều có sức quyến rũ lạ lùng khiến thiên nhiên không thể dễ dàng chịu thua, chịu nhường mà phải nảy sinh lòng đố kỵ, ghen ghét, báo hiệu lành ít, dữ nhiều. Không chỉ mang một vẻ đẹp “nghiêng nước, nghiêng thành”, Kiều còn là một cô gái thông minh và rất mực tài hoa.Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mỹ phong kiến, gồm đủ cả cầm (đàn), kỳ (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ). Đặc biệt nhất vẫn là tài đàn của nàng, đã là sở trường, năng khiếu (nghề riêng), vượt lên trên mọi người (ăn đứt). Đặc tả cái tài của Kiều cũng là để ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng: Cung đàn “bạc mệnh” mà Kiều tự sáng tác nghe thật da diết buồn thương, ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm. Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc – tài –tình. Tác giả dùng thành ngữ “nghiêng nước, nghiêng thành” để cực tả giai nhân, đồng thời là lời ngợi ca nhân vật. Chân dung của Thuý Kiều cũng là chân dung mang tính cách số phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hoá phải ghen ghét, phải đố kị “hoa ghen, liễu hờn”. Điều này dự báo tương lai số phận nàng sẽ éo le, đau khổ. - Câu chốtđoạn: Như vậy, chỉ bằng mấy câu thơ trong đoạn trích, Nguyễn Du đã không chỉ miêu tả được nhân vật mà còn dự báo được trước số phận của nhân vật; không Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.28 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. những truyền cho người đọc tình cảm yêu mến nhân vật mà còn truyền cả nỗi lo âu phấp phỏng về tương lai số phận nhân vật. Bài tập 2:Viết khoảng 10 câu văn nối tiếp câu mở đoạn sau để hoàn thành một đoạn văn theo cách diễn dịch hoặc Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp cụ thể: “Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Kiều hiện lên là người con gái thuỷ chung, hiếu thảo, vị tha.” Yêu cầu: Viết đoạn văn diễn dịch - Dùng câu: “Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích, Kiều hiện lên là người con gái thuỷ chung, hiếu thảo, vị tha.” làm câu mở đoạn. - Sau đó viết tiếp các câu theo phát triển: Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất, nhưng nàng đã quên cảnh ngộ bản thân để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ.Trước hết, nàng đau đớn nhớ tới chàng Kim, điều này phù hợp với quy luật tâm lý, vừa thể hiện sự tinh tế của ngòi bút Nguyễn Du.Nhớ người tình là nhớ đến tình yêu nên bao giờ Kiều cũng nhớ tới lời thề đôi lứa: “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng”. Vừa mới hôm nào, nàng và chàng cùng uống chén rượu thề nguyền son sắt, hẹn ước trăm năm dưới trời trăng vằng vặc, mà nay mỗi người mỗi ngả, mối duyên tình ấy đã bị cắt đứt một cách đột ngột. Nàng xót xa ân hận như một kẻ phụ tình, đau đớn và xót xa khi hình dung cảnh người yêu hướng về mình, đêm ngày đau đớn chờ tin mà uổng công vô ích “tin sương luống những rày trông mai chờ”. Câu thơ “Tấm son gột rửa bao giờ cho phai” có thể hiểu là tấm lòng son trong trắng của Kiều đã bị dập vùi, hoen ố, biết bao giờ mới gột rửa cho được, có thể hiểu là tấm lòng nhớ thương Kim Trọng không bao giờ nguôi quên. Đối với Kim Trọng, Kiều thậtsâu sắc, thủy chung, thiết tha. Tiếp đó, Kiều xót xa khi nhớ tới cha mẹ: “Xót người tựa cửa hôm mai”. Nàng thương cha mẹ khi sáng, khi chiều tựa cửa ngóng tin con, trông mong sự đỡ đần; nàng xót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu mà nàng không được gần gũi chăm sóc và báo hiếu cho cha mẹ. Thành ngữ “Quạt nồng ấp Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.29 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. lạnh”,điển cố “Gốc tử đã vừa người ôm”, cụm từ “biết mấy nắng mưa” nói lên tâm trạng nhớ thương và tấm lòng hiếu thảo của Kiều dành cho cha mẹ đang ngày càng già nua đau yếu. Lần nào nhớ về cha mẹ, Kiều cũng nhớ chín chữ cao sâu và luôn đau xót mình đã bất hiếu không thể chăm sóc được cha mẹ. Bài tập 3: Một bạn học sinh viết: “Cơ sở của tình đồng chí đã được thể hiện rõ qua khổ thơ đầu của bài thơ "Đồng chí". Em hãy lấy câu đó làm câu mở đoạn để triển khai tiếp đoạn văn Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp hoặc diễn dịch phân tích 7 câu thơ đầu. - Gợi ý viết phần thân đoạn Mở đầu bằng hai câu thơ đối nhau rất chỉnh: “Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” Tác giả cho ta thấy những người lính đều là con em của những người nông dân từ các miền quê nghèo hội tụ về đây trong đội ngũ: “Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau” Từ “đôi” chỉ hai người, hai đối tượng chẳng thể tách rời nhau kết hợp với từ “xa lạ” làm cho ý xa lạ được nhấn mạnh hơn. Từ phương trời tuy chẳng quen nhau nhưng cùng đồng điệu trong nhịp đập của trái tim, cùng tham gia chiến đấu, giữa họ đã nảy nở một thứ tình cảm cao đẹp: Tình đồng chí - tình cảm ấy không phải chỉ là cùng cảnh ngộ mà còn là sự gắn kết trọn vẹn cả về lý trí, lẫn lý tưởng và mục đích cao cả: chiến đấu giành độc lập tự do cho Tổ quốc. “Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét đắp chung thành đôi tri kỉ Đồng chí!” Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.30 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Cả 7 câu thơ có duy nhất một từ “chung” nhưng bao hàm nhiều ý: chung cảnh ngộ, chung giai cấp, chung chí hướng, chung một khát vọng… Hai tiếng “Đồng chí” kết thúc khổ thơ thật đặc biệt, sâu lắngnhư một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ, là kết tinh của một tình cảm cách mạng mới mẻ chỉ có ở thời đại mới. Bài tập 4: Cho câu chủ đề: So với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám, rõ ràng ta thấy ông Hai có những điểm tiến bộ vượt bậc trong nhận thức, tâm hồn, tình cảm và tính cách. Hãy viết đoạn văn có sử dụng câu trên làm câu chủ đề, trong đoạn có sử dụng cách lập luận so sánh tương đồng hoặc tương phản, suy luận nhân quả... So với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám, rõ ràng ta thấy ông Hai có những điểm tiến bộ vượt bậc trong nhận thức, tâm hồn, tình cảm và tính cách. Đó chính là nhờ vào đường lối giác ngộ cách mạng của Đảng, Bác Hồ với họ. Lão Hạc và ông Hai có những điểm tính cách khác nhau nhưng họ vẫn có những phẩm chất của những người nông dân giống nhau, đều hiền lành, chất phác, lương thiện. Cách mạng tháng Tám thành công đã đem đến sự đổi đời cho mỗi người nông dân. Từ một thân phận nô lệ phụ thuộc họ trở thành một người tự do làm chủ cuộc đời, làm chủ đất nước. Từ đó đã củng cố và làm nền tảng vững chắc cho tình yêu quê hương, đất nước, trở thành một tình cảm vững bền, thiêng liêng sâu nặng, nồng cháy trong họ. Trong hoàn cảnh toàn dân đang hướng tới cuộc kháng chiến chống Pháp, bảo vệ độc lập dân tộc, ông Hai đã biết đặt tình yêu đất nước lên trên tình yêu cá nhân của mình với làng chợ Dầu, ông dành tất cả tình cảm, tâm hồn mình cho cách mạng. Đó chính là nét đẹp trong con người ông Hai nói riêng và người nông dân Việt Nam nói chung. Văn hào I li a, E ren bua có nói: …” Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu tổ quốc. Ông Hai đúng là một con người như thế. Niềm vui, nỗi buồn của ông đều gắn bó với làng. Lòng yêu làng của ông chính là cội nguồn của lòng yêu nước. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.31 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. - Đoạn văn trình bày theo cách diễn dịch. - Cách lập luận nhân quả: So với lão Hạc trong truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám, rõ ràng ta thấy ông Hai có những điểm tiến bộ vượt bậc trong nhận thức, tâm hồn, tình cảm và tính cách. Đó chính là nhờ vào đường lối giác ngộ cách mạng của Đảng, Bác Hồ với họ. - Cách lâp luận so sánh tương đồng: - Lão Hạc và ông Hai có những điểm tính cách khác nhau nhưng họ vẫn có những phẩm chất của những người nông dân giống nhau, đều hiền lành, chất phác, lương thiện. - Văn hào I li a, E ren bua có nói: …” Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu đồng quê trở nên lòng yêu tổ quốc. Ông Hai đúng là một con người như thế. Niềm vui, nỗi buồn của ông đều gắn bó với làng. Lòng yêu làng của ông chính là cội nguồn của lòng yêu nước. 3.2.3. Viết đoạn văn không cho sẵn câu chủ đề. Với dạng bài tập này yêu cầu học sinh có kĩ năng tổng hợp hơn. Không chỉ biết xác định câu chủ đề mà còn biết trình bày đoạn văn theo cách lập luận mà đề yêu cầu. Ví dụ: Bài tập 1: Viết đoạn văn diễn dịch phân tích 6 câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”. Yêu cầu của bài tập: - Hình thức: Viết đoạn văn diễn dịch. - Nội dung: Phân tích sáu câu thơ cuối trong đoạn trích “Cảnh ngày xuân”. Sáu câu thơ cuối miêu tả cảnh chị em Thuý Kiều du xuân trở về. Cảnh vẫn mang cái nét thanh tao, trong trẻo của mùa xuân, rất êm dịu: ánh nắng nhạt, khe nước nhỏ, nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang. Mọi cử động đều rất nhẹ nhàng: mặt trời từ từ ngả bóng về tây, bước chân người thơ thẩn, dòng nước uốn quanh. Một bức tranh thật đẹp, thanh khiết. Cảnh đã có sự thay đổi về thời gian và không gian: Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.32 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Không còn bát ngát, trong sáng, không còn cái không khí đông vui náo nhiệt của lễ hội, tất cả đang nhạt dần, lặng dần. Cảnh được cảm nhận qua tâm trạng. Những từ láy “tà tà”, “thanh thanh”, “nao nao” không chỉ biểu đạt sắc thái cảnh vật mà còn bộc lộ tâm trạng con người. Đặc biệt, hai chữ “nao nao” đã nhuốm màu tâm trạng lên cảnh vật. Hai chữ “thơ thẩn” có sức gợi rất lớn, chị em Kiều ra về trong sự bần thần nuối tiếc, lặng buồn. “dan tay” tưởng là vui nhưng thực ra là chia sẻ cái buồn không thể nói hết. Cảm giác bâng khuâng, xao xuyến về một ngày vui xuân đã hé mở vẻ đẹp của một tâm hồn thiếu nữ tha thiết với niềm vui cuộc sống, nhạy cảm và sâu lắng. Đoạn thơ hay bởi đã sử dụng các bút pháp cổ điển: tả cảnh gắn với tả tình, tả cảnh ngụ tình. Bài tập 2 Viết đoạn văn để phân tích khổ thơ “Dù ở gần con... vẫn theo con”trong bài “ Con cò” của Chế lan Viên. Gợi ý Con cò là hình tượng xuyên suốt bài thơ, đi vào lời ru của mẹ và là biểu tượng cho tấm lòng người mẹ, lúc nào cũng ở bên con đến suốt cuộc đời, trở thành “Cuộc đời vỗ cánh qua nôi” của đứa con.Từ hình tượng con cò, nhà thơ đã khái quát thành một quy luật của tình cảmcó ý nghĩa bền vững và sâu sắc: “Dù ở gần con Dù ở xa con Lên rừng xuống bể Cò sẽ tìm con Cò mãi yêu con” Ở đây, cò trắng đãhoá thân vào hình ảnh người mẹ.Bốn câu thơ đầu chỉ có 4 chữ ngắn gọn, giọng thơ lắng lại,giống lời thủ thỉ của mẹ dành cho đứa con yêu. Sự lặp lại liên tục của các từ: dù, ở, con, cò, ...láy đi láy lại cảm xúc dâng trào trong sâu thẳm tâm hồn mẹ. “Lên rừng xuống bể” –phép đối nghĩa gợi ra hai chiều không gian với bao khó khăn chồng chất lên cuộc đời. Khoảng cách địa lý có Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.33 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. thể “gần”, có thể “xa” nhưng chẳng thể nào cản được bầu trời yêu thương của mẹ. Dù một ngày nào đó mẹ không còn có mặt trên cuộc đời này nữa nhưng mẹ vẫn “luôn”, vẫn “sẽ” mãi tìm con, yêu con. Mai này con sẽ trở thành cánh cò vững chãi bay xa nhưng trong trái tim của mẹ con vẫn còn bé bỏng, ngây thơ như thuở nằm trong nôi được mẹ cưng chiều. Quả thật, đối với bất kỳ người mẹ nào trên thế gian, đứa con nhỏ của mình luôn dại khờ, luôn cần được che chở, bao bọc, cần một điểm tựa nâng đỡ. Bởi vậy, mẹ lúc nào cũng dõi theo từng bước chân con trên chặng đường đời lắm chông gai, thử thách. Tấm lòng mẹ muôn đời là vậy. Vượt ra ngoài mọi hoàn cảnh, mọi giới hạn vẫn không hề đổi thay. Từ những cảm xúc dâng trào, Chế Lan Viên đã đưa ra một triết lý sâu sắc, cảm động về tình yêu thương của người mẹ: “Con dù lớn vẫn là con của mẹ. Đi hết đời, lòng mẹ vẫn yêu con”–triết lý ấy bao giờ cũng đúng, triết lý ấy không ai có thể phủ nhận được. “ta đi trọn kiếp con người cũng không đi hết mấy lời mẹ ru”. Bài tập 3: Phân tích 6 câu thơ đầu của bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”bằng đoạn văn diễn dịch, có sử dụng cách lập luận so sánh. Gợi ý Bức tranh mùa xuân thiên nhiên trong 6 câu thơ đầu được vẽ bằng vài nét chấm phá nhưng rất đặc sắc. Từ “mọc” được đặt ở đầu câu - nghệ thuật đảo ngữ nhằmnhấn mạnh, khắc hoạ sự khoẻ khoắn. “Mọc” tiềm ẩn một sức sống, sự vươn lên, trỗi dậy. Giữa dòng sông rộng lớn, không gian mênh mông chỉ có một bông hoa thôi nhưng không hề gợi lên sự lẻ loi đơn chiếc. Trái lại, bông hoa ấy hiện lên lung linh, sống động, tràn đầy sức (sống) xuân.Với gam màu hài hoà dịu nhẹ tươi tắn. Màu xanh lam của nước sông (dòng sông Hương) hòa cùng màu tím biếc của hoa, một màu tím giản dị, thuỷ chung, mộng mơ và quyến rũ. Đó là màu sắc đặc trưng của xứ Huế.Bức tranh đó còn rộn rã âm thanh của tiếng chim chiền chiện, loài chim của mùa xuân. Cách dùng các từ “ơi”, “chi” hay “chi mà” mang Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.34 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. chất giọng ngọt ngào đáng yêu của người xứ Huế (thân thương, gần gũi), mang nhiều sắc thái cảm xúc như một lời trách yêu.Khung cảnh mùa xuân có không gian cao rộng, màu sắc tươi thắm, âm thanh vang vọng - một sắc xuân của xứ Huế - Một không gian bay bổng mà đằm thắm dịu dàng, tươi tắn. Mùa xuân trong thơ Thanh Hải chẳng có mai vàng, đào thắm cũng chẳng có muôn hoa khoe sắc màu rực rỡ, mùa xuân trong thơ Thanh Hải thật giản dị, đằm thắm.Nhà thơ cảm thấy say sưa ngây ngất, xốn xang rạo rực trước cảnh đất trời vào xuân: “Từng giọt long lanh rơi Tôi đưa tay tôi hứng”: Giọt long lanh rơi dù hiểu là giọt sương, giọt nắng, giọt mùa xuân haygiọt hạnh phúc, giọt âm thanhthì vẫn thể hiện cảm xúc ngây ngất say sưa của nhà thơ. Tiếng chim chiền chiện hót vang trời nhưngkhông tan biến vào không trung, nó như ngưng đọng lại thành từng giọt âm thanh, như những hạt lưu li trong vắt long lanh chói ngời. Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác: từ thính giác đến thị giác, xúc giác. Những yếu tố huyền ảo trong bài thơ được thể hiện một cách sáng tạo, gợi cảm và tài tình.“Tôi đưa tay tôi hứng” thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp của thi nhân đối với vẻ đẹpcủa thiên nhiên, thể hiện sự đồng cảm của thi nhân trước thiên nhiên và cuộc đời. 3.2.4. Viết đoạn văn, với yêu cầu cụ thể về hình thức, kèm theo các yêu cầu về liên kết câu, ngữ pháp. Ví dụ: Bài tập 1:Cho ba câu thơ: “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo” Viết một đoạn văn ngắn từ 9 đến 12 câu theo phép luận luận Tổng hợp – Phân tích –Tổng hợp để phân tích cái hay mà em cảm nhận được từ ba câu thơ trên. Chỉ ra các phép liên kết em đã sử dụng trong đoạn văn. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.35 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Gợi ý Ba câu thơ kết thúc bài thơ “Đồng chí” là bức tranh đẹp về tình đồng chí, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ. “Đêm nay rừng hoang sương muối Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới Đầu súng trăng treo”. Trong cảnh “rừng hoang sương muối” nhưng những người lính vẫn đứng cạnh bên nhau, im lặng, phục kích chờ giặc tới. Từ “chờ” gợi lên tư thế chủ độngcủa người lính. Hai câu thơ đối nhau thật chỉnh và gợi cảm giữa khung cảnh và toàn cảnh. Khung cảnh lạnh lẽo, buốt giá. Toàn cảnh là tình cảm ấm nồng của người lính với đồng đội của các anh. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp người lính vượt lên tất cả sự khắc nghiệt của thời tiết. Tình đồng đội đã sưởi ấm lòng các anh giữa rừng hoang mùa đông và sương muối buốt giá. Hình ảnh“ Đầu súng trăng treo”là có thật trong cảm giác, được nhận ra từ những đêm hành quân, phục kích chờ giặc.Nhưng đây là hình ảnh đẹp nhất, gợi bao liên tưởng phong phú: Súng và trăng là gần và xa, là chiến sĩ và thi sĩ, là thực tại và mơ mộng. Tất cả đã hòa quyện, bổ sung cho nhau trong cuộc đời người lính cách mạng. Câu thơ như nhãn tự của cả bài, vừa mang tính hiện thực, vừa mang sắc thái lãng mạn, là một biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí thân thiết.Ba câu thơ là bức tranh đẹp, là biểu tượng đẹp giàu chất thơ về tình đồng chí, đồng độicủa người lính trong kháng chiến chống Pháp. Bài tập 2: Trong bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” có câu thơ: “Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nôi và tim hát thành lời.” Viết một đoạn văn khoảng 10 câu, trong đó sử dụng câu hỏi tu từ, thành phần tình thái để phân tích đoạn thơ em vừa chép. Gợi ý: Trong bài “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” có câu thơ: Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.36 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. “Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối Lưng đưa nôi và tim hát thành lời.” Câu thơ gợi lên hình ảnh người mẹ chịu thương, chịu khó trong lao động và vô cùng yêu con. Hai câu thơ trên vừa tả việc làm của mẹ, vừa biểu hiện tình cảm, sâu nặng của mẹ với con. Mẹ vừa địu con trên lưng vừa giã gạo góp phần nuôi bộ đội ăn no đánh giặc.Từ láy “nghiêng” vừa giàu chất tạo hình vùagợi nhiều xúc động, diễn tả dáng điệu nghiêng nghiêng vất vả của mẹ bên cối gạo đồng thời cũng giúp ta cảm nhận về giấc ngủ của em cu Tai. Dường như trong giấc ngủ say nồng trên tấm lưng gầy của mẹ, cả người em cũng nghiêng nghiêng áp vào lưng mẹ và nhấp nhô lên xuống theo mỗi nhịp chày.Hình ảnh giọt mồ hôi nóng hổi khiến ta cảm nhận được sự vất vả, chịu thương, chịu khó của mẹ.Hình ảnh “vai mẹ gầy” kết hợp với từ láy “nhấp nhô”không chỉ diễn tả sự thiếu thốn mà còn cho ta thấy tất cả sự cố gắng, nỗ lực, kiên trì, nhẫn nại trong công việc của mẹ. Dù lao động cật lực nhưng mẹ vẫn chăm chút đến giấc ngủ của đứa con yêu.Phải chăng hình ảnh người mẹ Tà - ôi cần cù, nhân hậu chính là hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ? - Thành phần tình thái:Dường như - Câu hỏi tu từ: Phải chăng hình ảnh người mẹ Tà - ôi cần cù, nhân hậu chính là hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ? Bài tập 3: Viết một đoạn văn ngắn để nêu lên suy nghĩ của em về những điều người cha nói với con qua khổ thơ sau: “Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục.” (Nói với con –Y Phương) Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.37 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Trong đoạn có sử dụng: + Lời dẫn trực tiếp. + Phép lặp. (Có gạch chân hoặc chú thích) Gợi ý : “Người đồng mình thô sơ da thịt Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương Còn quê hương thì làm phong tục.” Những câu thơ là lời người chanói với con về đức tính của “người đồng mình” . Người chaca ngợi đức tính cao đẹp của “người đồng mình”bằng những hình ảnh đầy ấn tượng : “Người đồng mình thô sơ da thịt/ Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”.Đó là những con người chân chất, khoẻ khoắn. Họmộc mạc mà không nhỏ bé về tâm hồn.Họgiàu ý chí và niềm tin. Họtự chủ trong cuộc sống, biết “tự đục đá kê cao quê hương” bằng tinh thần cần cù lao động, bằng ý chí và nghị lực. Họmuốn giữ lấy bản sắc văn hoá duy trì những tập quán tốt đẹp của người đồng mình. Họtha thiết yêu quê hương, lấy quê hươnglàm chỗ dựa vững chắc cho tâm hồn.Nói với con những điều đó, người chamong con biết tự hàovề truyền thống quê hương,tự hàovề dân tộc để tự tin hơn trong cuộc sống của mình. - Các từ in đậm, nghiêng: phép lặp. - Câu gạch chân in đậm, nghiêng: lời dẫn trực tiếp. Trên đây là những giải pháp nhằm rèn luyện kĩ năng viết đoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9 trong hai năm học ở trường THCS Thạch Hoà. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.38 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. IV. KẾT QUẢ SAU KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI: Qua hai năm thực hiện đề tài, tôi nhận thấy kĩ năng dựng đoạn của học sinh tăng lên rõ rệt sau từng năm học.Nhiều em đã có kĩ năng viết đoạn thành thạo, đảm bảo sự liên kết cả về nội dung cũng như hình thức. Cuối năm học tôi đã khảo sát, kiểm chứng kết quả thực hiện đề tài qua việc khảo sát kĩ năng viết đoạn của học sinh hai lớp 9 để đối chứng so với đầu năm chưa triển khai thực hiện đề tài. Đề bài dùng để khảo sát: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của ba cô gái thanh niên xung phong trong truyện ngắn: “ Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê. * KẾT QUẢ KHẢO SÁT CỦA HỌC SINHHAI LỚP 9 TRƯỜNG THCS THẠCH HOÀ SAU KHI TRIỂN KHAI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM: KẾTQUẢXẾPLOẠI Tổng Khối lớp Giỏi Khá Trung bình Yếu số học sinh TS % TS % TS % TS % 2 5,2% 7 18,4% 18 47,4 11 29% Đầu 9A 38 năm 1 3% 6 18,2% 16 48,5% 10 30,3% 9B 33 9A 38 10 26,3% 12 31,8% 14 36,8% 2 5,3% Cuối năm 9B 33 9 27,3% 12 36,4% 10 30,3% 2 6% So với kết quả khi chưa thực hiện đề tài, kết quả có thay đổi rõ rệt, tỉ lệ khá giỏi tăng, tỉ lệ trung bình, yếu giảm. Dưới đây là thống kê số liệu tăng giảm cụ thể: Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.39 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. BẢNG SO SÁNH ĐỐI CHỨNG KẾT QUẢ KHẢO SÁT TRƯỚC VÀ SAU KHI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI SKKN. Giỏi Khá Trung bình Yếu TS % TS % TS % TS % 8 + 21,1% 5 + 13,4% - 4 - 10,6% - 9 - 23,7% 9A 9B 8 + 24,3% 6 + 18,2% - 6 -18,2% - 8 - 24,3% ( Kí hiệu: + là tăng, - là giảm). Nhìn vào bảng so sánh đối chứng ta thấy sau khi thực hiện đề tài số học sinh đạt điểm giỏi của lớp 9A tăng 21,1%, lớp 9B tăng 24,3%. Số học sinh đạt điểm khá của 9A tăng 13,4%, 9B tăng 18,2%. Số học sinh đạt điểm trung bình 9A giảm 10,6%, 9B giảm 18,2%. Số học sinh bị điểm yếu của 9A giảm 23,7%, 9B giảm 24,3%. Kết quả này cũng được khẳng định một cách khách quan qua các kì thi tuyển học sinh giỏi Ngữ văn 9 và thi vào 10 môn Ngữ văn của trường THCS Thạch Hoà trong hai năm vừa qua. Cả hai năm học 2010 – 2011, 2011 - 2012 đều có 2/2 học sinh đạt học sinh giỏi Văn cấp huyện, năm học có 2011 –2012 có 1 học sinh đạt giải khuyến khích môn Văn cấp Thành phố; Đội truyển môn Ngữ văn của trường được xếp hạng thứ nhất trong huyện. Kết quả thi vào 10 môn Ngữ văn năm học 2011 –2012 có 32/64 =50% học sinh đạt điểm khá giỏi, tỉ lệ chung cả trường môn Ngữ văn đạt 6,4 điểm đứng thứ tư trong huyện, đưa kết quả thi vào 10 môn Ngữ văn của Thạch Hoà từ xếp tốp cuối ( Năm học 2010 -2011, môn Ngữ văn vào 10 của Thạch Hoà xếp thứ 21/24 trường của Thạch Thất) lên đứng trong tốp đầu của huyện chỉ sau các trường Thạch Thất, Đại Đồng, Bình Phú. Cuối năm học 2011 - 2012, kết quả khảo sát chất lượng môn Ngữ văn lớp 9B của PGD với đề bài: “Viết đoạn văn nêu cảm nhận của em về hình ảnh người lính trong bài tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kínhcủa Phạm Tiến Duật”, có 26/32 = 81,3% học sinh đạt điểm khá giỏi, chỉ có 4/32 = 12,5% học sinh đạt TB, 2/32 học sinh = 6,3% bị điểm yếu. Kết quả như trên đã nằm ngoài dự kiến và mong muốn của người thực hiện đề tài. Mong rằng kết quả này sẽ được tiếp tục khẳng định qua những kì thi trong các năm học tới. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.40 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. C: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Sáng kiến kinh nghiệm được rút từ thực tế giảng dạy, qua quá trình hướng dẫn học sinh kĩ năng viết đoạn văn nghị luận. Những giải pháp thực hiện đã giúp học sinh nhất là đối tượng học sinh từ trung bình trở xuống có kĩ năng viết đoạn văn, bài văn nghị luận. Như chúng ta đã biết, trên thực tế, đoạn văn là một phần của văn bản. Khi các em có kĩ năng viết đoạn thành thạo thì cũng nâng cao kĩ năng viết bài tập làm văn. Các kĩ năng dựng đoạn trong phạm vi đề tài này đều là những kĩ năng có thể sử dụng hiệu quả khi viết các đoạn thân bài của bài nghị luận về tác phẩm truyện, đoạn trích, đoạn thơ, bài thơ. Mặc dù, khi viết bài văn, đoạn văn nghị luận văn học cần phải có kĩ năng phân tích tác phẩm theo từng thể loại (Trong phạm vi đề tài này tôi không đề cập đến). Nhưng các kĩ năng dựng đoạn đã thực hiện trong đề tài cũng đã góp phần nâng cao kĩ năng làm văn nghị luận, nhất là nghị luận văn học cho học sinh, từng bước nâng cao chất lượng học tập của học sinh ở bộ môn Ngữ văn trong nhà trường cũng như khả năng tạo lập văn bản khi bước vào cuộc sống. Tạo cho các em luôn có khả năng lập luận mạch lạc, chặt chẽ, thuyết phục khi trình bày một vấn đề, một ý tưởng.Một số bài học rút ra của tôi sau khi thực hiện đề tài là: - Giáo viên cần cho học sinh nắm vững kiến thức về đoạn văn: Khái niệm, cách trình bày nội dung trong đoạn văn. - Giáo viên phải có điều tra khảo sát thực tế, và tuỳ theo đối tượng học sinh khá, giỏi hay trung bình, yếu mà vận dụng lựa chọn các dạng bài tập phù hợp. Qua đó màcủng cốhoặc nâng cao kiến thức về đoạn văn, rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văncho học sinh. - Đặc biệt làphải cho học sinh nắm vững kiến thức về các tác phẩm văn học ( qua các giờ học phân môn Văn) để có nội dung thực hành khi viết đoạn. Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.41 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Trên đây là những kinh nghiệm của tôi qua việc thực hiện đề tài ở trường THCS Thạch Hoà. Tuy nhiên, đây chỉ là kinh nghiệm mang tính chủ quan của bản thân và mới áp dụng trong phạm vi hẹp. Rất mong sự đóng góp ý kiến, trao đổi, bổ sung của bạn bè đồng nghiệp và sự phổ biến nhân rộng của đề tài để kết quả giáo dục nói chung, dạy và học văn nói riêng của học sinh ngày càng được nâng cao. Xin chân thành cám ơn! Thạch Hoà, ngày 18 tháng 5 năm 2012 XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết, không sao chép nội dung của người khác. Ngô Thị Nghị Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.42 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. Ý KIẾN ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NGÀNH GD&ĐT THẠCH THẤT ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ........................, ngày....tháng....năm 2012 Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.43 SangKienKinhNghiemKHTN.com
SKKN: “ Rèn luyện kĩ năng viếtđoạn văn nghị luận văn học cho học sinh lớp 9”. ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... ...................................................................................................................................... Người thực hiện: Ngô Thị Nghị - GV Trường THCS Thạch Hoà –Thạch Thất –Hà Nội.44 SangKienKinhNghiemKHTN.com