0 likes | 9 Views
Mu1ed7i mu00f4n hu1ecdc u1edf tiu1ec3u hu1ecdc u0111u1ec1u gu00f3p phu1ea7n vu00e0o viu1ec7c hu00ecnh thu00e0nh vu00e0 phu00e1t triu1ec3n nhu1eefng cu01a1 su1edf ban u0111u1ea7u ru1ea5t quan tru1ecdng nhu00e2n cu00e1ch con ngu01b0u1eddi. Trong cu00e1c mu00f4n hu1ecdc u1edf tiu1ec3u hu1ecdc cu00f9ng vu1edbi mu00f4n Tiu1ebfng Viu1ec7t, mu00f4n Tou00e1n cu00f3 vu1ecb tru00ed ru1ea5t quan tru1ecdng vu00ec: Cu00e1c kiu1ebfn thu1ee9c, ku0129 nu0103ng cu1ee7a mu00f4n Tou00e1n cu00f3 ru1ea5t nhiu1ec1u u1ee9ng du1ee5ng trong cuu1ed9c su1ed1ng, chu00fang ru1ea5t cu1ea7n thiu1ebft cho ngu01b0u1eddi lao u0111u1ed9ng, ru1ea5t cu1ea7n thiu1ebft u0111u1ec3 hu1ecdc cu00e1c mu00f4n hu1ecdc khu00e1c vu00e0 hu1ecdc tiu1ebfp Tou00e1n u1edf Trung hu1ecdc. Cu00e1c kiu1ebfn thu1ee9c, ku0129 nu0103ng cu1ee7a mu00f4n Tou00e1n u1edf tiu1ec3u hu1ecdc u0111u01b0u1ee3c hu00ecnh thu00e0nh chu1ee7 yu1ebfu bu1eb1ng thu1ef1c hu00e0nh, luyu1ec7n tu1eadp vu00e0 thu01b0u1eddng xuyu00ean u0111u01b0u1ee3c u00f4n tu1eadp, cu1ee7ng cu1ed1, phu00e1t triu1ec3n, vu1eadn du1ee5ng trong hu1ecdc tu1eadp vu00e0 trong u0111u1eddi su1ed1ng.
E N D
MỤC LỤC NỘI DUNG TRANG THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN TÓM TẮT SÁNG KIẾN MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Cơ sở lý luận 1 2. Thực trạng 2 3. Một số kinh nghiệm dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị cho 5 học sinh lớp 3 3.1. Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp chung để giải các bài toán 6 3.2. Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến 8 rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân (kiểu bài 1) 3.3. Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến 12 rút về đơn vị bằng hai phép tính chia (kiểu bài 2) 3.4. Hướng dẫn học sinh luyện tập so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài 13 3.5.Động viên, khuyến khích học sinh kịp thời 14 4. Kết quả thu được sau khi áp dụng sáng kiến 15 5. Khả năng áp dụng của sáng kiến 17 17 6. Hiệu quả của sáng kiến KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1. Kết luận 18 2. Khuyến nghị 20 1 https://dekiemtra.edu.vn/
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN 1.Tên sáng kiến: Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị 2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Áp dụng sáng kiến vào giảng dạy môn Toán lớp 3 dạng: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị 3. Tác giả: Họ và tên: Phạm Thị Nguyệt Nam( nữ): nữ Sinh ngày 21 tháng 9 năm 1971 Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Tiểu học Chức vụ: Tổ trưởng chuyên môn, Trường Tiểu học Phượng Kỳ Điện thoại: 01634550976 4. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu: Trường Tiểu học Phượng Kỳ 5. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến: Nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất để giáo viên chủ động xây dựng nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp đối tượng. 6. Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm học 2017 –2018 ( thử nghiệm) đến năm học 2019 – 2020. TÁC GIẢ XÁC NHẬN CỦA ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN Phạm Thị Nguyệt XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD & ĐT 2 https://dekiemtra.edu.vn/
TÓM TẮT SÁNG KIẾN 1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến Phương pháp dạy học Toán ở Tiểu học là sự vận dụng các phương pháp dạy học Toán nói chung cho phù hợp với mục tiêu, nội dung, các điều kiện dạy học. Ở lớp 3, các em bắt đầu được làm quen với các dạng toán hợp cơ bản, trong đó có dạng toán liên quan rút về đơn vị. Dạng toán này có rất nhiều ứng dụng trong thực tế, nó đòi hỏi các em phải có kĩ năng giải toán tốt, kĩ năng ứng dụng thực tế trong hàng ngày. Sau khi dạy giải toán ở lớp 3 nhiều năm liền, tôi thấy các em nắm được kĩ năng giải toán của giáo viên truyền đạt tới như là một văn bản của lí thuyết, còn nó có ứng dụng vào thực tế như thế nào đó thì chưa cần biết. Có những bài toán các em làm xong, không cần thử lại, không cần xem áp dụng trong thực tế như thế nào, cứ để kết quả như vậy mặc dù có thể sai. Đó là những tác hại lớn khi học toán. Những trăn trở này chính là lí do tôi nghiên cứu vấn đề: “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị”. Với kinh nghiệm nhỏ này, mục đích của tôi là đề xuất một số biện pháp để rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị cho học sinh lớp 3;nhằm nâng cao chất lượng giải toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng và chất lượng môn Toán nói chung 2. Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến Điều kiện: Nhà trường tạo điều kiện về cơ sở vật chất để giúp giáo viên chủ động xây dựng nội dung, phương pháp dạy học cho phù hợp đối tượng. Thời gian: Từ năm học 2017 –2018 đến cuối tháng 2 năm học 2019 – 2020. Đối tượng: Học sinh lớp 3 3 https://dekiemtra.edu.vn/
3. Nội dung sáng kiến “Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị” được nghiên cứu, áp dụng mang nhiều tính sáng tạo. Đó là xây dựng hệ thống bài tập ngoài SGK, gắn liền với cuộc sống, gần gũi với học sinh. Bên cạnh đó, kinh nghiệm không hướng dẫn học sinh luyện tập giải 2 dạng toán riêng biệt theo thiết kế của SGK mà đưa 2 dạng toán này cho học sinh được luyện tập một cách song song giúp các em so sánh 2 cách giải để các em nắm vững bản chất của từng dạng toán từ đó các em dễ dàng áp dụng giải toán đạt hiệu quả cao. 4. Giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến Trong suốt quá trình nghiên cứu, quan sát học sinh giải toán, tôi thấy các em rất thích giải toán khi các em đã có đủ vốn kiến thức, phương pháp giải toán. Các em giải toán đúng, chính xác hơn khi các em được khai thác kiến thức với phương pháp dễ hiểu nhất, dễ nhớ nhất. Với phương pháp này tôi đã trang thiết bị cho các em vốn kiến thức phương pháp cơ bản để các em giải dạng toán này không nhầm lẫn, sai sót dẫn đến chất lượng học của các em được nâng lên rõ rệt. 5. Đề xuất, kiến nghị Sáng kiến dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị cho học sinh lớp 3 đã bước đầu đạt được hiệu quả. Tuy nhiên để sáng kiến có được thành công đòi hỏi mỗi giáo viên phải nắm chắc nội dung, chương trình giảng dạy môn Toán; dành nhiều thời gian nghiên cứu thêm các tài liệu bổ trợ để có sự hiểu biết sâu rộng từ đó đưa ra được những phương pháp, hình thức dạy học phù hợp. Bên cạnh đó, giáoviên cần tập trung nghiên cứu kĩ thông tư 30/2014/TT- BGDĐT ngày 28/8/2014 và thông tư 22/2016/BGDĐT để khi đánh giá học sinh, lời nhận xét của giáo viên phải giúp học sinh biết phát hiện và khắc phục những lỗi sai trong quá trình giải toán một cách thường xuyên và kịp thời tạo hứng thú học tập cho các em. 4 https://dekiemtra.edu.vn/
MÔ TẢ SÁNG KIẾN 1. Cơ sở lý luận Mỗi môn học ở tiểu học đều góp phần vào việc hình thành và phát triển những cơ sở ban đầu rất quan trọngnhân cách con người. Trong các môn học ở tiểu học cùng với môn Tiếng Việt, môn Toán có vị trí rất quan trọng vì: Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán có rất nhiều ứng dụng trong cuộc sống, chúng rất cần thiết cho người lao động, rất cần thiết để học các môn học khác và học tiếp Toán ở Trung học. Các kiến thức, kĩ năng của môn Toán ở tiểu học được hình thành chủ yếu bằng thực hành, luyện tập và thường xuyên được ôn tập, củng cố, phát triển, vận dụng trong học tập và trong đời sống. Như chúng ta đã biết, căn cứ vào sự phát triển tâm, sinh lí của học sinh Tiểu học mà cấu trúc nội dung môn Toán rất phù hợp với từng giai đoạn phát triển của học sinh. Ở lớp 3, các em được học các kiến thức, kĩ năng ở thời điểm kết thúc của giai đoạn 1, chuẩn bị học tiếp giai đoạn sau, cho nên các em phải nắm được chắc tất cả các cơ sở ban đầu về giải toán nói riêng, tất cả các kĩ năng khác nói chung. Đặc biệt,sang học kì II, các em bắt đầu được làm quen với các dạng toán hợp cơ bản, trong đó có dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. Dạng toán này có rất nhiều ứng dụng trong thực tế, nó đòi hỏi các em phải có kĩ năng giải toán tốt, kĩ năng ứng dụng thực tế trong hàng ngày. Sau khi dạy giải toán ở lớp 3 nhiềunăm liền, tôi thấy các em nắm được kĩ năng giải toán của giáo viên truyền đạt tới như là một văn bản của lí thuyết, còn nó có ứng dụng vào thực tế như thế nào đó thì chưa cần biết. Có những bài toán các em làm xong, không cầnthử lại, không cần xem áp dụng trong thực tế như thế nào, cứ để kết quả như vậy mặc dù có thể sai. Đó là những tác hại lớn khi học toán. Nhiệm vụ đặt ra cho người giáo viên Tiểu học là: Để thực hiện các bài dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị cho các em cần lựa chọn phương pháp nào? Biện pháp nào giúp các em nắm được kiến thức của bài và vận dụng kiến thức đó để có được những bài giải hay. Những trăn trở này chính là lí do tôi nghiên cứu 5 https://dekiemtra.edu.vn/
vấn đề:“Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị”.Với kinh nghiệm này tôi có thể vận dụng trong suốt quá trình dạy học của mình. 2.Thực trạng 2.1. Thựctrạng sách giáo khoa Toán 3 Sách Toán 3 gồm7 tiết trong học kì II dạy học sinh giải toán liên quan đến rút về đơn vị. Cụ thể: - Tuần 25: Học sinh được làm quen với Bài toán liên quan đến rút về đơn vịdạng 1 (Thời lượng là 3 tiết) - Tuần 32: Học sinh được làm quen với Bài toán liên quan đến rút về đơn vịdạng 2 (Thời lượng là 4 tiết) Sách đựơc trình bày gồm 2 bài dạy lý thuyết; 5 bài luyện tập, kênh chữvẫn chiếm ưu thế và thực sự là nội dung học tập chính. Giáo viên và học sinh cần tận dụng tối đa kênh chữ làm tài liệu chính để giảng dạy và học tập. Các kênh thông tin có trong SGK giúp giáo viên có thể tổ chức cho học sinh hoạt động học tập để các em tự tìm ra kiến thức mới. 2.2. Thực trạng giảng dạy Đi sâu vào tìmhiểu thực trạng dạy và học giải toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi thấy còn có những hạn chế nhất định đó là: - Khi dạy học sinh tiết Toándạng bài: liên quan đến rút về đơn vịđa số giáo viên vẫn còn bám sát các bài tập trong sách giáo khoa mà chưa chú ý sáng tạo những bài tập gắn liền với thực tế địa phương và cuộc sống xung quanh để rèn kĩ năng cho học sinh. Vì vậy giáo viên rất lúng túng và mất nhiềuthời gian trong 6 https://dekiemtra.edu.vn/
việc lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp tổ chức dạy học sao cho tiết học đạt hiệu quả cao. - Một số giáo viên cho rằng mình là người duy nhất truyền thụ kiến thức cho học sinh mà không thấy rằng trong phương pháp dạy mới giáo viên chỉ là người định hướng, người tổ chức các hoạt động còn học sinh là người tự tìm tòi, tự khám phá và tự chiếm lĩnh kiến thức rồi cũng chính học sinh tự vận dụng một cách linh hoạt để biến cái cần học thành cái "vốn" cái "tài sản" của bản thân. - Một số giáo viên còn dạy "chay", học "chay" - Một số giáo viên còn hạn chế về năng lực chuyên môn. - Chưa có nhiều hình thức để học sinh tích cực, chủ động học tập. Thống kê chất lượng 42 học sinh khối 3 tháng 5 năm học 2017-2018. Kết quả như sau: Lớp Sĩ số 9 – 10 7 - 8 5 - 6 1 - 4 SL % SL % SL % SL % 3A 23 6 26 8 35 6 26 3 13 3B 19 4 21 6 30.5 6 30.5 3 16 Qua dự giờ thăm lớp và trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy kết quả giải toán liên quan đến rút về đơn vịcủa học sinh lớp 3chưa cao là do các nguyên nhân sau: a. Nội dung chương trình * Nội dung chương trình dạy giải Toán liên quan đến rút về đơn vị cho học sinh lớp 3trong một thời lượng ngắn chỉ có 7 tiết. - Thời gian học không liền mạch (dạng 1 học trong tuần 25, dạng 2 học trong tuần 32) 7 https://dekiemtra.edu.vn/
b.Về phía giáo viên - Giáo viên chưa mạnh dạn tìm tòi, nghiên cứu nhiều biện pháp, chưa thực sự gây được hứng thú, tính tích cực của học sinh. - Giáo viên thiếu tin tưởng vào học sinhnên đã hướng dẫn quá kĩ, quá tỉ mỉ dẫn đến việc học sinhlười suy nghĩ, lười động não, không huy động khả năng vốn có của mình, không có sự sáng tạo. - Dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị chưa thực sự đạt hiệu quả trong việc trang bị hiểu biết, đặc biệt là phát triển khả năng suy nghĩ và kỹ năng cho học sinh. c.Về phía học sinh Là giáo viên có nhiều năm giảng dạy ở lớp 3 tôi thấy năng lực giải toán liên quan đến rút về đơn vị của học sinh lớp 3 còn bị hạn chế bởi một số nguyên nhân chính như sau: + Thứ nhất, do các em ngại và chưa có thói quen đọc kĩ đề bài, phân tích các yếu tố ngôn ngữ để nắm được nội dung bài toán. + Thứ hai, do kiến thức thực tế còn quá ít ỏi, nên nhiều khi học sinh không nhận thấy những điều vô lí trong những kết quả sai của mình. + Thứ ba, do khả năng tư duy lô gíc chưa tốt, và đôi khi do không biết bắt đầu từ đâu, nên con đường đến đáp số nhiều khi chỉ là một sự ước đoán, mò mẫm. + Thứ tư, một phần nữa là do tínhvội vàng hấp tấp, muốn khám phá nhanh đáp số bài toán. Việc giúp học sinh khắc phục những hạn chế và những nguyên nhân nêu trên khi học toán liên quan đến rút về đơn vịlà một trong những vấn đề cần được coi trọng 8 https://dekiemtra.edu.vn/
3. Một số kinh nghiệm dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị cho học sinh lớp 3 Kiến thức về giải toán liên quan đến rút về đơn vị chohọc sinh lớp 3 đã được cung cấp và bồi dưỡng nhưng việc vận dụng nó là cả một quá trình rèn luyện, học hỏi, tích luỹ. Để vận dụng được một cách linh hoạt trong mọi trường hợp thật không phải dễ . Để thực hiện những trăn trở của mình trong việc "Rèn kĩ nănggiải toán liên quan đến rút về đơn vị cho học sinh lớp 3”, tôi đã khảo sát các tài liệu về rèn kĩ nănggiải toán liên quan đến rút về đơn vị, về sách giáo khoa, sách giáo viên, trọng tâm là các bài toán liên quan đến rút về đơn vị tuần 25; tuần 32. - Dự giờ khảo sát các kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vịcủa học sinh. - Phân tích chương trình – sách giáo khoa Toán lớp 3. - Phân tích thực trạng dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị ở lớp 3. - So sánh, đối chiếu kết quả khảo sát trước và sau vận dụng kinh nghiệm Trong thực tế, giải toán liên quan đến rút về đơn vị có nhiều ưu điểm. Nhưng đối với học sinh lớp 3, đó vẫn là một kiến thức khó. Trước thực trạng đó, tôi đã quyết định đi sâu và mạnh dạn áp dụng cách dạy học sau vào giảng dạy cho học sinh lớp 3từ năm học 2017-2018. Năm học 2018-2019; 2019-2020 tôi tiếp tục xin dạy các em để tiếp tục bồi dưỡng, kiểm tra kết quả. Trước tiên, theo tôi người giáo viên khi tổ chức các tiết học toán liên quan đến rút về đơn vịcần chú ý vận dụng các phương pháp, biện pháp để dạy học, để khai thác phát huy hết những mặt mạnh của việc rèn kỹ năngcho học sinh. Để giúp học sinh có được kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị và vận dụng được trong thực tế, tôi đã áp dụng những cách làm sau vào giảng dạy: 9 https://dekiemtra.edu.vn/
3.1. Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp chung để giải các bài toán Mỗi bài toán các em có làm tốt được hay không đều phụ thuộc vào các phương pháp giải toán được vận dụng ở mỗi bước giải bài toán đó. Cho nên, chúng ta cần hướng dẫn học sinh nắm được các bước giải bài toán như sau: * Bước 1: Đọc kĩ đề toán. * Bước 2: Tóm tắt đề toán. * Bước 3: Phân tích bài toán. * Bước 4: Viết bài giải. * Bước 5: Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải. Cụ thể yêucầu đối với học sinh như sau: a/ Đọc kĩ đề toán: Học sinh đọc ít nhất 3 lần mục đích để giúp các em nắm được ba yếu tố cơ bản. Những “ dữ kiện” là những cái đã cho, đã biết trong đầu bài, “những ẩn số” là những cái chưa biết và cần tìm và những “điều kiện” là quan hệ giữa các dữ kiện với ẩn số. Cần tập cho học sinh có thói quen và từng bước có kĩ năng suy nghĩ trên các yếu tố cơ bản của bài toán, phân biệt và xác định được các dữ kiện và điều kiện cần thiết liên qua đến cái cần tìm, gạt bỏ các tình tiết không liên quan đến câu hỏi, phát hiện được các dữ kiện và điều kiện không tường minh để diễn đạt một cách rõ ràng hơn. Tránh thói quen xấu là vừa đọc xong đề đã làm ngay. b/ Tóm tắt đề toán: Sau khi đọc kĩ đề toán, các em biết lược bớt một số câu chữ, làm cho bài toán gọn lại, nhờ đó mối quan hệ giữa cái đã cho và một số phải tìm hiện rõ hơn. Mỗi em cần cố gắng tóm tắt được các đề toán và biết cách nhìn vào tắt ấy mà nhắc lại được đề toán. Thực tế có rất nhiều cách tóm tắt bài toán, nếu các em càng nắm được nhiều cách tóm tắt thì các em sẽ càng giải toán giỏi. Cho nên, khi dạy tôi đã truyền đạt các cách sau tới học sinh: 10 https://dekiemtra.edu.vn/
* Cách 1: Tóm tắt bằng chữ. * Cách 2: Tóm tắt bằng chữ và dấu. * Cách 3: Tóm tắt bằng sơ đồ đoạn thẳng. * Cách 4: Tóm tắt bằng hình tượng trưng. * Cách 5: Tóm tắt bằng lưu đồ. * Cách 6: Tóm tắt bằng sơ đồ Ven. * Cách 7: Tóm tắt bằng kẻ ô. Tuy nhiên tôi luôn luôn hướng các em chọn cách nào cho hiểu nhất, rõ nhất, điều đó còn phụ thuộc vào nội dung từng bài. c/ Phân tích bài toán: Sau khi tóm tắt đề bài xong, các em tập viết phân tích đề bài để tìm ra cách giải bài toán. Cho nên, ở bước này, giáo viên cần sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, thiết lập cách tìm hiểu, phân tích bài toán theo sơ đồ dưới dạng các câu hỏi thông thường: - Bài toán cho biết gì? - Bài toán hỏi gì? - Muốn tìm cái đó ta cần biết gì? - Cái này biết chưa? - Còn cái này thì sao? - Muốn tìm cái chưa biết ta cần dựa vào đâu? Làm như thế nào? Hướng dẫn học sinh phân tích xuôi rồi tổng hợp ngược lên, từ đó các em nắm bài kĩ hơn, tự các em giải được bài toán. d/ Viết bài giải: Dựa vào sơ đồ phân tích, quá trình tìm hiểu bài, các em sẽ dễ dàng viết được bài giải một cách đầy đủ, chính xác. Giáo viên chỉ việc yêu cầu học sinh trình bày đúng, đẹp, cân đối ở vở là được, chú ý câu trả lời ở các bước phải đầy đủ, không viết tắt, chữ và số phải đẹp. e/ Kiểm tra lời giải và đánh giá cách giải: Qua quá trình quan sát học sinh giải toán, chúng ta dễ dàng thấy rằng học sinh thường coi bài toán đã giải xong khi tính ra đáp số hay tìm được câu trả lời. Khi giáo viên hỏi: “ Em có tin chắc kết quả là 11 https://dekiemtra.edu.vn/
đúng không?” thì nhiều em lúng túng. Vì vậy việc kiểm tra , đánh giá kết quả là không thể thiếu khi giải toán vàphải trở thành thói quen đối với học sinh. Cho nên khi dạy giải toán, chúng ta cần hướng dẫn các em thông qua các bước: - Đọc lại lời giải. - Kiểm tra các bước giải xem đã hợp lí yêu cầu của bài chưa, các câu văn diễn đạt trong lời giải đúng chưa. - Thử lại các kết quả vừa tính từ bước đầu tiên. - Thử lại kết quả đáp số xem đã phù hợp với yêu cầu của đề bài chưa. Đối với học sinh giỏi, giáo viên có thể hướng các em nhìn lại toàn bộ bài giải, tập phân tích cách giải, động viên các em tìm các cách giải khác, tạo điều kiện phát triển tư duy linh hoạt, sáng tạo, suy nghĩ độc lập của học sinh. 3.2. Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng phép tính chia, nhân ( kiểu bài 1) Để học sinh nắm chắc phương pháp giải kiểu bài toán này, tôi đã tiến hành dạy ngay ở trên lớp theo phương pháp và hình thức sau: a/ Kiểm tra bài cũ: Để nhắc lại kiến thức cũ và chuẩn bị cho kiến thức mới cần truyền đạt, tôi ra đề như sau: “Mỗi can chứa được 5 lít mật ong. Hỏi 7 can như vậy chứa được bao nhiêu lít mật ong?” Với bài này, học sinh dễ dàng giải được như sau: Bài giải Bảy can như vậy chứa được số lít mật ong là: 5 x 7 = 35 ( l) Đáp số: 35 l mật ong. Sau đó, tôi yêu cầu học sinh nhận dạng toán đã học và giải thích cách làm, đồng thời cho học sinh nhắc lại quy trình giải của một bài toán. b/ Bài mới: 12 https://dekiemtra.edu.vn/
* Giới thiệu bài: Dựa vào bài toán kiểm tra bài cũ, giáo viên vừa củng cố, vừa giới thiệu bài ngày hôm nay các em được học. * Hướng dẫn học sinh giải bài toán 1: Có 35 l mật ong chia đểu vào 7 can. Hỏi mỗi cancó mấy lít mật ong? - Giáo viên yêu cầu học sinh đọc đầu bài( 3 em). - Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán ( sử dụng phương pháp hỏi đáp): + Bài toán cho biết gì? (35 lít mật ong đổ đều vào 7 can). + Bài toán hỏi gì? ( 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong). + Giáo viên yêu cầu học sinh nêu miệng phần tóm tắt để giáo viên ghi bảng: 7 can: 35l 1 can:.. l? - Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán để tìm phương pháp giải bài toán. - Giáo viên yêu cầu học sinh làm vào bảng con. - Giáo viên đưa bài giải đối chiếu. Bài giải Số lít mật ong có trong mỗi can là: 35 : 7 = 5 (l) Đáp số: 5 l mật ong. - Giáo viên củng cố cách giải: Để tìm 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong ta làm phép tính gì? ( phép tính chia). - Giáo viên giới thiệu. Bài toán cho ta biết số lít mật ong có trong 7 can, yêu cầu chúng ta tìm số lít mật ong trong 1 can, để tìm được số lít mật ong trong 1 can, chúng ta thực hiện phép chia. Bước này gọi là rút về đơn vị, tức là tìm giá trị của một phần trong các phần. - Giáo viên cho học sinh nêu miệng kết quả một số bài toán đơn giản để áp dụng, củng cố như: 5 bao: 300kg 1 bao: … kg? hoặc 3 túi : 15 kg 13 https://dekiemtra.edu.vn/
1 túi : … kg ? * Hướng dẫn học sinh giải bài toán 2: Có 35 lít mật ong cia đều vào 7 can. Hỏi 2 can có mấy lít mật ong? - Giáo viên yêu cầu học sinh đọc kĩ đầu bài ( 3 lần). - Yêu cầu học sinh nêu tóm tắt bài toán - Giáo viên ghi bảng( Phương pháp hỏi đáp): 7 can : 35 l 2 can : … l? - Hướng dẫn học sinh phân tích bài toán: ( Phương pháp hỏi đáp) + Muốn tính được số lít mật ong có trong 2 can ta phải biết gì? ( 1 can chứa được bao nhiêu lít mật ong) +Làm thế nào để tìm được số lít mật ong có trong 1 can? ( Lấy số lít mật ong trong 7 can chia cho 7). + Yêu cầu học sinh nhẩm ngay 1 can: ? l. + Yêu cầu học sinh nêu cách tính 2 can khi đã biết 1 can. (Lấy số lít mật ong có trong 1 can nhân với 2). - Một học sinh nêubài giải. Giáo viên ghi bảng. Bài giải Số lít mật ong có trong mỗi can là: 35 : 7 = 5 (l) Số lít mật ong có trong 2 can là: 5 x 2 = 10 (l) Đáp số:10l mật ong. - Yêu cầu học sinh nêu bước nào là bước rút về đơn vị: Bước tìm số lít mật ong trong 1 can gọi là bước rút về đơn vị. - Hướng dẫn học sinh củng cố dạng toán –kiểu bài 1: Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước: 14 https://dekiemtra.edu.vn/
+Bước 1: Tìm giá trị một đơn vị ( giá trị một phần trong các phần bằng nhau) . Thực hiện phép chia. + Bước 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại( giá trị của nhiều phần bằng nhau) . Thực hiện phép nhân. + Học sinh nhẩm thuộc, nêu lại các bước. - Hướng dẫn học sinh làm bài tập áp dụng. - Giáo viên nêu miệng, ghi tóm tắt lên bảng, học sinh nêu kết quả và giải thích cách làm. 3 túi : 45 kg 12 túi : … kg? hoặc : 4 thùng : 20 gói 5 thùng : … gói? Sau khi học sinh nắm chắc cách giải bài toán ở kiểu bài này, chúng ta cần tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập. c/Luyện tập: Khi tiến hành hướng dẫn học sinh luyện tập qua từng bài, giáo viên cần thay đổi hình thức luyện tập. Bài 1: - Hướng dẫn học sinh thảo luận chung cả lớp, sau đó 1 học sinh tóm tắt và giải bài toán trên bảng, cả lớp làm vào vở. - Củng cố bước rút về đơn vị. - Củng cố các bước giải bài toán này. Bài 2: - Học sinh thảo luận và làm việc theo nhóm đôi. - Yêu cầu1 cặp học sinh trình bày bảng - Giáo viên kiểm tra các kết quả của cả lớp. - Yêu cầu họcsinh nêu bước rút về đơn vị. - Củng cố cách thực hiện 2 bước giải bài toán. d/ Củng cố dặn dò: 15 https://dekiemtra.edu.vn/
- Học sinh tự nêu các bước, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến rút về đơn vị ( kiểu bài 1) - Qua mỗi lần luyện tập xen kẽ, giáo viên đều củng cố cách làm ở kiểu bài 1 là: + Bài giải được thực hiện qua 2 bước: Bước 1: ( Bước rút về đơn vị) Tìm giá trị 1 đơn vị ( Giá trị 1 phần). ( phép chia). Bước 2: Tìm nhiều đơn vị ( từ 2 trở lên) ( phép nhân). + Nhấn mạnh cốt chính của kiểu bài 1 là tìm giá trị của nhiều đơn vị ( nhiều phần). - Khi học sinh đã nắm chắc kiểu bài 1 thì các em dễ dàng giải được kiểu bài 2. 3.3. Hướng dẫn học sinh nắm chắc phương pháp giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị bằng hai phép tính chia ( kiểu bài 2) Khi dạy kiểu bài 2 này, tôi cũng dạy các bước tương tự. Song để học sinh dễ nhận dạng, so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài, khi kiểm tra bài cũ, tôi đưa đề bài lập lại của kiểu bài 1: “ Có 35 lít mật ong rót đều vào 7 can . Hỏi 2 can đó có bao nhiêu lít mật ong”. Mục đích là vừa kiểm tra, củng cố phương pháp giải ở kiểu bài 1, cũng là để tôi dựa vào đó hướng các em tới phương pháp giải ở kiểu bài 2( giới thiệu bài). Bài toán ở kiểu bài 2 có dạng sau: Có 35 lít mật ong đựng đều vào 7 can. Nếu có 10 lít mật ong thì đựng đều vào mấy can như thế? - Cách tổ chức, hướng dẫn học sinh cũng như ở kiểu bài 1. - Khi củng cố, học sinh nêu được ở bước 1 là bước rút về đơn vị và các bước thực hiện bài giải chung của kiểu bài 2 này. + Bước 1:: Tìm giá trị 1 đơn vị ( giá trị 1 phần). ( đây là bước rút về đơn vị) . ( phép chia). + Bước 2: Tìm số phần (số đơn vị) ( phép chia). 16 https://dekiemtra.edu.vn/
Sau mỗi bài tập, chúng ta lại củng cố lại một lần, các em sẽ nắm chắc phương pháp hơn. Đặc biệt khi học xong kiểu bài 2 này, các em dễ nhầm với cách giải ở kiểu bài 1. Cho nên, chúng ta phải hướng dẫn học sinh cách kiểm tra, đánh giá kết quả bài giải ( thử lại theo yêu cầu của bài). Ví dụ: Các em đặt kết quả tìm được vào phần tóm tắt của bài các em sẽ thấy được cái vô lí khi thực hiện sai phép tính của bài giải như: 35 l : 7 can. 35 l : 7 can 10 l : 2 can ( đúng) 10 l : 50can ( vô lí). Từ đó các em nắm chắc phương pháp giải kiểu bài 2 tốt hơn, có kĩ năng , kĩ xảo tốt khi giải toán. 3.4. Hướng dẫn học sinh luyện tập so sánh phương pháp giải 2 kiểu bài Để học sinh luyện tập tốt 2 kiểu bài này, tôi đã hướng dẫn các em so sánh các bước giải và đặc điểm của mỗi kiểu bài. Kiểu bài 1 Kiểu bài 2 Tìm giá trị của một phần: Phép chia Tìm giá trị của một phần: Phép chia Bước 1 (Đây là bước rút về đơn vị) (Đây cũng là bước rút về đơn vị) Tìm giá trị của nhiều phần bằng nhau Tìm số phần (Phép chia): Lấy giá trị Bước 2 các phần chia cho giá trị một phần (Phép nhân): Lấy giá trị một phần nhân với số phần Sau đó, tôi yêu cầu học sinh học thuộc để áp dụng nhận dạng kiểu bài và giải các bài toán liên quan đến rút về đơn vị. Khi luyện tập, tôi tiến hành cho học sinh luyện 2 bài tập song song với nhau, mục đích là để các em vừa làm, vừa nhận dạng, so sánh. Sau mỗi lần luyện tập như vậy, chúng ta lại củng cố kiến thức một lần cho các em, chắc các em không còn nhầm lẫn nữa. *Lần 1: Bài toán 1: Có 5 túi gạo chứa được 40 kg gạo. Hỏi 3 túi gạo thì chứa được bao nhiêu ki - lô - gam gạo? 17 https://dekiemtra.edu.vn/
Bài toán 2: Có 40 ki – lô - gam gạo đựng vào 5 túi. Hỏi có 24 kg gạo thì cần bao nhiêu túi như thế để đựng? * Củng cố cách giải, mối quan hệ giữa các phép tính trong 2 bài toán này. Mặt khác học sinh dễ dàng nhìn nhận ra lỗi sai của mình, nếu như nhầm phép tính ( Bài toán 2 là bài toán ngược của bài toán 1) * Lần 2: Bài toán 1: Có 4 cái áo đơm hết 24 cái cúa áo. Hỏi có 1236 cúa áo thì đơm được bao nhiêu cái áo như thế? Bài toán 2: Ba thùng như nhau đựng được 27 lít mật ong. Hỏi 7 thùng như thế đựng được bao nhiêu lítmật ong? *Đổi thứ tự bài để học sinh củng cố được cách nhận dạng 2 kiểu bài và phương pháp giải. 3.5. Động viên, khuyến khích học sinh kịp thời Trên thực tế,lớp tôi có một số em tiếp thu nhanh và một số em tiếp thu chậm, nhất là loại toán giải có văn.Trong từng tiết học, để những học sinh yếu này tiếp thu, giải được những bài toán liên quan đến rút về đơn vị là cả một vấn đề khó khăn. Các em thường rất ngại làm bài, sợ giải toán vì khả năng tư duy (phân tích, tổng hợp) của các em có nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, do đặc điểm tâm sinh lí của lứa tuổi, các em còn vội vàng, hấp tấp, đơn giản hoá vấn đề nên đôi khi chưa đọc kĩ đề, chưa hiểu kĩ đề đã vội vàng làm bài, dẫn đến kết quả còn nhiều khi sai, thiếu hoặc đúng nhưng chưa đủ. Nắm bắt được tình hình thực tế của học sinh, tôiluôn quan tâm động viên các em chămhọc, tích cực làm bài để các emtự tin vào khả năng của mình giúp các em tự suy nghĩ, tìm cách giải đúng. Trong các giờ lên lớp, tôi luôn động viên các em đọc đề kỹ, phân tích đề suy nghĩ tìm ra mối quan hệ giữa dữ kiện đã cho và dữ kiện phải tìm bỏ qua những chi tiết thứ yếu, 18 https://dekiemtra.edu.vn/
những chi tiết không cần thiết mà tập trung vào những chi tiết chủ yếu bản chất để tìm ra cách giải. Tôi dành nhiều thời gian hơn trong việc kiểm tra bài làm của các emnày trên lớp, thường xuyên nhận xét chỉ rõ lỗi sai của học sinh và hướng dẫn các em cách sửa, hoặc chữa trực tiếp với học sinh để các em hiểu được lỗi sai của mình, giúp các em tìm biện pháp khắc phục kịp thời.Tuyên dương khen thưởng bằng nhận xétnếu các em có cố gắng để các em phấn khởi học tập, xoá dần đi ấn tượng sợ giải toán. Vào buổi học thứ hai (buổi chiều), tôi yêu cầu các em làm lại bài toán vừa giải ở buổi thứ nhất (buổi sáng) để các em nắm vững cách giải, lần sau gặp lại loại bài như thế là có thể làm được ngay. Khi đánh giá học sinh trong quá trình học tập của các em tôi đưa ra được những lời nhận xét hay, động viên, khích lệ được học sinh học tập. Lời nhận xét của tôi đã giúp học sinh biết phát hiện và khắc phục những lỗi sai trong quá trình giải toán một cách thường xuyên và kịp thời tạo hứng thú học tập cho các em. Tôi còn yêu cầu phụ huynh kết hợp chặt chẽ với giáo viên, có trách nhiệm hướng dẫn con em học ở nhà, giúp các em ôn lại vững kiến thức, làm lại thuần thục các bài tập trên lớp. Ngoài ra tôi còn tổ chức đôi bạn học tập, gồm 01 em giỏi toán kèm 01 em yếu môn toán đồng thời duy trì thường xuyên nền nếp truy bài đầu giờ. Nếu bạn giải sai thì hướng dẫn giải lại cho bạn nắm được phương pháp giải toán. * Tóm lại: Trên đây là phương pháp hướng dẫn các em học sinh lớp 3 giải tốt dạng toán Bài toán liên quan đến rút về đơn vị, tôi tin rằng nếu chúng ta làm được như vậy thì các em nắm được phương pháp giải dạng toán này tốt hơn, chắc chắn hơn, tránh được những sai sót có thể xảy ra. Các em sẽ có được tinh thần phấn khởi, tự tin khi giải toán. 4. Kết quả thu được sau khi áp dụng sáng kiến 19 https://dekiemtra.edu.vn/
Trên cơ sở xác định rõ mục đích rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị cho học sinh qua các giờ học toán và để đánh giá tính khả thi của các việc làm đã được đề xuất ở phần trên;năm học 2018-2019, tôi đã mạnh dạn đưa ra một số biện pháp dạy theo nghiên cứu của tôi vào dạy lớp 3B để đối chứng với lớp 3A (Chất lượng hai lớp ngang bằng nhau).Năm học 2019-2020 này, tôi lại tiếp tục áp dụng cách dạy trên cho lớp tôi chủ nhiệm.Qua việc dạy bài: “Bài toán liên quan đến rút về đơn vị”và kết quả thực tế ở hai tiết dạy như sau: Lớp Sĩ số 9 – 10 7 - 8 5 - 6 1 - 4 SL % SL % SL % SL % Thực nghiệm 3B 35 20 57 12 35 3 8 0 0 Đối chứng 3A 25 6 24 7 28 10 40 2 8 Lớp 3Ađược dạy theo đúng nội dung sách giáo khoa và gợi ý hướng dẫn của sách giáo viên, do đó học sinh chỉ dừng lại ở những ví dụ trong sách giáo khoa, khó vận dụng trong thực tế. Lớp 3Bđược dạy theo phương pháp cải tiến, nội dung bài có sự điềuchỉnh, có hệ thống câu hỏi gợi ý, hướng dẫn. Ở phần luyện tập, học sinh được mở rộng tầm nhìn bằng cách so sánh hai kiểu bài của dạng toán liên quan đến rút về đơn vị. Điều đó giúp học sinh dễ hình dung, dễ nhận biết được kiến thức vừa học.Do đó, lớp học sôi nổi, thực hiện tốt phương pháp đổi mới, giáo viên hướng dẫn, học sinh hoạt động tích cực. Qua giảng dạy và thống kê các đợt kiểm tra tôi có thể khẳng định được việc áp dụng kinh nghiệmcó hiệu quả. Số lượng học sinh đạt điểm 9-10 củalớp thực nghiệm đã được tăng rõ rệt. Số lượng học sinh đạt điểm 5- 6 đã giảmđi một lượng đáng kể. Còn đối với lớp đối chứng, chất lượng học sinh chưa có tiến bộ. Mặt khác sau khi đã áp dụng kinh nghiệmtôi và đồng nghiệp nhận thấy học sinhrất mạnh dạn, tự tin, linh hoạt, sáng tạo trong học tập. Kĩ năng giải toáncủa học sinh 20 https://dekiemtra.edu.vn/
tốt lên rất nhiều. Đặc biệt học sinhđã biết vận dụng linh hoạt cách kiểm tra kết quả sau khi đã làm bài xong để bài tập có một kết quả chính xác nhất. Như vậy, trong một giờ dạy, nếu giáo viên hiểu đúng sách giáo khoa, khai thác, sáng tạo, linh hoạt áp dụng các biện pháp một cách đồng bộ thì hiệu quả giờ dạy sẽ cao hơn. Số lượng học sinh đạt điểm khá - giỏi tăng lên rõ rệt. 5. Khả năng áp dụng của sáng kiến Kinh nghiệmđược áp dụng tại trường trong điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học đầy đủ. Giáo viên nghiên cứu kỹ nội dung bài và kết hợp áp dụng các biện pháp, các phương pháp dạy học phù hợp, linh hoạt đem lại hiệu quả cao. Ngoài ra, kinh nghiệmcòn có thể áp dụng rộng rãi cho giáo viên dạy lớp 3 ở các trường Tiểu học đang thực hiện chương trình giáo dục phổ thông của Bộ giáo dục ban hành. 6. Hiệu quả của sáng kiến Sau khi tiến hành vận dụng một số kinh nghiệm vào giảng dạy toán lớp 3 dạng Bài toán liên quan đến rút về đơn vịtôi thấy thực sự có hiệu quả. Học sinh chủ động tiếp thu bài hơn đặt biệt các em có lực học trung bình rất tự tin khi tham gia vào bài học. Học sinh tận dụng tối đa vốn kiến thức sẵn có. Các em có điều kiện trao đổi, học hỏi bạn bè, thầy cô, học sinh được rèn luyện sự nhanh nhẹn, hoạt bát khi nghe và trả lời câu hỏi.Kĩ năng giải toánđược nâng cao.Học sinh học tập sôi nổi, không còn lúng túng trả lời theo khuôn mẫu, thực hiện linh hoạt trong quá trình làm bài. Các em áp dụng vào thực tế cuộc sống hàng ngày ở trường, gia đình, xã hội tốt hơn. Giáo viên thì cũng đã làm quen với cách nghiên cứu và soạn giảng theo phương pháp mới không còn lúng túng mà đã lựa chọn được các bài tập với nhiều hình thức yêu cầu khác nhau, giúp học sinh thực hành và phát huy tính sáng tạo. 21 https://dekiemtra.edu.vn/
KẾTLUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 1.Kết luận Dạy toán ở Tiểu học nói chung, ở lớp 3 nói riêng là cả một quá trình kiên trì, đầy sự sáng tạo, nhất là đối với dạng toán liên quan đến rút về đơn vị, cho nên khi hướng dẫn học sinh giải toán nói chung, giải dạng toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng chúng ta cần phải: 1/ Tạo niềm hứng thú, sự say mê giải toán, bởi các em có thích học toán thì các em mới có sự suy nghĩ, tìm tòi các phương pháp giải bài toán một cách thích hợp. 2/ Hướng dẫn học sinh nắm đầy đủ các kĩ năng cần thiết khi giải toán bằng phương pháp phù hợp, nhẹ nhàng, không gò bó. 3/ Kích thích tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp trong khi tìm tòi, phát hiện đường lối trong giải toán. 4/ Thường xuyên thay đổi hình thức dạy học ở mỗi bài để tránh sự nhàm chán. 5/ Tập cho học sinh có kĩ năng tự phân tích bài toán, tự kiểm tra đánh giá kết quả của bài toán, tập đặt các câu hỏi gợi mở cho các bước giải trong bài toán. 6/ Phải coi việc giải toán là cả một quá trình, không nóng vội mà phải kiên trì tìm và phát hiện ra “ chỗ hổng” sau mỗi lần hướng dẫn để khắc phục, rèn luyện. 7/ Nên động viên, khuyến khích các em đưa ra phương pháp giảihợp lí, tránh đưa ra tình huống phủ định ngay. 8/ Gần gũi, động viên những em học yếu môn Toán để các em có tiến bộ, giúp đỡ nhẹ nhàng khi cần thiết. 22 https://dekiemtra.edu.vn/
Sau khi được học theo phương pháp mới, tôi nhận thấy học sinhnắm chắc được cách giải dạng toán này một cách sâu sắc, tránh không còn bị nhầm lẫn, giúp các em nắm vững bài và yêu thích môn Toán hơn. Từ đó các em có vốn kĩ năng tính toán chính xác ở những lúc cần thiết trong cuộc sống, tránh được những sai sót có thể xảy ra. Tạo cho các em có tác phong học tập và làm việc có suy nghĩ, có kế hoạch, có kiểm tra, có tinh thần hợp tác, độc lập và sáng tạo, có ý chí vượt khó khăn, cẩn thận, kiên trì, tự tin. học tập sôi nổi. Các em áp dụng vào thực tế cuộc sống hàng ngày ở trường, gia đình, xã hội tốt hơn. Giáo viên thì cũng đã làm quen với cách nghiên cứu và soạn giảng theo phương pháp mới không còn lúng túng mà đã lựa chọn được các bài tập với nhiều hình thức yêu cầu khác nhau, giúp học sinh thực hành và phát huy tính sáng tạo. Áp dụng những phương pháp đề xuất trên đây vào giảng dạy, tôi đã có được những giờhọc Toán liên quan đến rút về đơn vịđạt hiệu quả cao, không gây căng thẳng, tạo sự hứng thú trong học tập. Trong giờ học, các em được làm việc nhiều, khuyến khích học sinh vận dụng những điều đã học vào trong thực tiễn cuộc sống hàng ngày, vào việc làm tốt các bài toán liên quan đến rút về đơn vị. Giúp các em nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo tương ứng mà còn phải biết được cách tự học. Vì vậy, tôi thiết nghĩ trong quá trình dạy học, nếu các thầy, cô giáo quan tâm, chú trọng nhiều hơn đến việc rèn kỹ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vịcho học sinh thì sẽ giúp ích rất nhiều cho các em học tốt toán tỉ lệ thuận, tỉ lệ nghịch sau này cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Mặt khác, việc rèn kỹ năng sống cho các em học sinh đang rất được chú trọng, nhất là trong nhịp sống hiện đại ngày nay thì việc bồi dưỡng cho các em các kỹ năng sống cơ bản là một việc làm rất thiết thực và có ý nghĩa. Tóm lại, dạy - học là một hoạt động mang tính nghệ thuật. Dạy - học trong giai đoạn đổi mới hiện nay lại càng đòi hỏi cả người dạy và người học nỗ lực phấn đấu, không ngừng tự học hỏi nâng cao tầm nhận thức nắm bắt kịp thời các 23 https://dekiemtra.edu.vn/
phương pháp giảng dạy hiện đại kết hợp với việc vận dụng linh hoạt thực tế cuộc sống cho phù hợp với mọi đối tượng học sinh nhằm mang lại hiệu qủa cao cho hoạt động dạy học. 2. Khuyến nghị Qua thực tế giảng dạy cùng với sự đúc kết kinh nghiệm của bản thân khi dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị cho học sinh lớp 3, tôi có một số ý kiến đề xuất như sau: 2.1. Đối với các cấp giáo dục - Tập trung chỉ đạo, nâng cao chuyên đề môn Toánđặc biệt là rèn kỹ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vịcho học sinh để giáo viên có cơ hội học tập kinh nghiệm lẫn nhau. - Ban giám hiệu, tổ chuyên môn chỉ đạo việc giảng dạy môn Toánđúng chương trình, chú trọng dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị, rút kinh nghiệm để nâng cao chất lượng môn Toán nói chung, dạy giải toán liên quan đến rút về đơn vị nói riêng. 2.2. Đối với giáo viên - Ngay từ đầu năm học cần điều tra, nắm bắt trình độ của từng học sinh. Phân loại học sinh theo từng đối tượng cụ thể. - Hiểu rõ mục tiêu của từng bài từng phần phù hợp Chuẩn kiến thức, kĩ năng; nội dung điều chỉnh dạy học. - Có kĩ năng phân tích chương trình để xác định được nội dung phù hợp cho mỗi tiết học, sắp xếp các nội dung tạo nên cấu trúc lôgic, hợp lí nhất của bài giảng. Từ đó lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp. - Thường xuyên bồi dưỡng, trau dồi chuyên môn nghiệp vụ, tích luỹ kinh nghiệm giảng dạy, luôn có ý thức nâng cao tay nghề. 24 https://dekiemtra.edu.vn/
- Giáo viên cần quan tâm đến học sinh ở mọi lúc, mọi nơi như: khi các em giao tiếp với thầy, cô giáo, bạn bè, ... - Giáo viên cần thường xuyên liên hệ với cha mẹ học sinh để trao đổi về việc rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị cho các em khi ở nhà. 2.3. Đối với học sinh Tích cực học tập, lĩnh hội và khắc sâu kiến thức. Thường xuyên quan sát, học hỏi xung quanh mình một cách linh hoạt, vừa bao quát, vừa cụ thể. 2.4. Đối với phụ huynh học sinh Tích cực dạy con em mình có thói quen chuẩn bị bài và ôn lại bài đã học khi ở nhà. Có biện pháp nhắc nhở khi con em mình chưa tạo được thói quen học bài ở nhà. Kết hợp cùng giáo viên chủ nhiệm để rèn luyện cho các kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vịở mọi nơi, mọi lúc. Trên đây là một số kinh nghiệm của tôi khi dạy học sinh lớp 3 rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị. Tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám hiệu, tổ chuyên môn để tôi hoàn thành kinh nghiệm này. Mặc dù kinh nghiệm này đã có kết quả nhưng không tránh khỏi thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các cấp giáo dục, các bạn đồng nghiệp để kinh nghiệm này được hoàn thiện hơn. Tôi xin chân thành cảm ơn! 25 https://dekiemtra.edu.vn/
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Toán 3 - NXBGD 2. SGV Toán 3 tập 1 + tập 2 - NXBGD 3. Hướng dẫn thực hiện Chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học ở Tiểu học - lớp 3 - NXBGD 4. Nội dung điều chỉnhdạy học môn Toánlớp 3 theo QĐ 1047 5. Một số tạp chí GDTH, tạp chí GV và nhà trường, tạp chí Thế giới mới, Tài liệu sáng kiến; kinh nghiệm 6. Thông tư 30/2014/TT-BGDĐT ngày 28/8/2014 7. Thông tư 22/2016/TT-BGDĐT 26 https://dekiemtra.edu.vn/
Bài dạy minh họa khi nghiên cứuthực trạng của học sinh–Tuần 25 Toán BÀI TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN RÚT VỀ ĐƠN VỊ I. MỤC TIÊU - Biết cách giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị: +Bước 1: Tìm giá trị một phần (thực hiện phép tính chia ) - bước rút về đơn vị. +Bước 2: Tìm giá trị nhiều phần đó ( thực hiện phép nhân). - Rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị (kiểu 1) II. CHUẨN BỊ - PhÊn mµu, s¸ch gi¸o khoa tr. 127 III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC A.Bài cũ: 3-5p - Khi kim giờ của đồng hồ chỉ vào khoảng từ 10 đến 11, kim phút chỉ vào số 6 thì là mấy giờ? - GV nhận xét B. Bài mới: 30-32p 1. Giới thiệu bài 2. Nội dung *Hoạt động 1(10-12P):Hướng dẫn giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị *Bài toán 1:- GV đọc đề toán 1 lần - HS đọc đề + Bài toán cho biết gì? - HSTL + Bài toán hỏi gì? - GV yêu cầu HS quan sát tóm tắt bằng - HS quan sát và đọc lại đề toán hình vẽ SGK - HS nêu + Muốn tính số mật ong trong mỗi can 27 https://dekiemtra.edu.vn/
ta phải làm phép tính gì? - Yêu cầu HS tự giải - HS lên bảng, lớp làm nháp - GV giới thiệu bước rút về đơn vị: tìm số mật ong trong 1 can *Bài toán 2: - GV hướng dẫn tương tự - Yêu cầu HS tự giải - HS tự làm ra nháp - Cả lớp nhận xét. + Trong bài toán 2 bước nào gọi là bước rút về đơn vị? - GV giới thiệu cách giải bài toán rút về - HS nhắc lại đơn vị *Hoạt động 2(17-20P): Thực hành Bài 1: - Gọi HS đọc và nêu yêu cầu - HS đọc và TL theo yêu cầu - GV hướng dẫn ghi tóm tắt, tìm cách - HS nhìn tóm tắt đọc đề giải - HS tự làm, một HSlên bảng trình bày. - GV chữa bài, nhận xét - Dạng toán liên quan đến rút về đơn vị + Bài toán trên thuộc dạng toán nào? - Bước tìm số viên thuốc có trong một + Bước nào là bước rút về đơn vị? vỉ Bài 2: - GV hướng dẫn viết tóm tắt. + Bài toán trên thuộc dạng toán nào? - HS đọc và TL - Yêu cầu HS tự làm - HS làm vở, 1HS làm bảng - GV nhận xét chữa bài. - GV: + Trong bài toán trên, bước nào là - Bước tìm sốgạo có trong 1 bao bước rút về đơn vị? Bài 3: - Xếp hình(Khuyến khích HS - HS nêu yêu cầu - HS xếp thi giữa 3 tổ làm) - GV tổ chức cho HSthi xếp, trong cùng một thời gian tổ nào có nhiều bạn 28 https://dekiemtra.edu.vn/
xếp đúng tổ đó thắng. C.Củng cố –Dặn dò:3- 4p - GV chốt kiến thức chính, nhận xét giờ học - Dặn dò về nhà 29 https://dekiemtra.edu.vn/
Bài dạy minh họa tiết dạy thực nghiệm–Tuần 25 Toán BÀI TOÁN LIÊN QUAN ĐẾN RÚT VỀ ĐƠN VỊ I. MỤC TIÊU - Biết cách giải bài toán liên quan đến rút về đơn vị: +Bước 1: Tìm giá trị một phần (thực hiện phép tính chia ) - bước rút về đơn vị. +Bước 2: Tìm giá trị nhiều phần đó ( thực hiện phép nhân). - Rèn kĩ năng giải toán liên quan đến rút về đơn vị (kiểu 1) II. CHUẨN BỊ - PhÊn mµu, s¸ch gi¸o khoa tr. 127 III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC A.Bài cũ: 3-5p Bài toán: Mỗi can chứa được 5 lít mật ong. Hỏi 7 can như vậy chứa được bao nhiêu lít mật ong? - 1 học sinh lên bảng, dưới lớp làm trong vở nháp. Bài giải Bảy can như vậy chứa được số lít mật ong là: 5 x 7 = 35 ( l) Đáp số: 35 l mật ong. - HS, GV nhận xét Yêu cầu học sinh nhận dạng dạng toán đã học và giải thích cách làm, đồng thời cho học sinh nhắc lại quy trình giải của một bài toán. B. Bài mới: 30-32p 1. Giới thiệu bài: Dựa vào bài toán kiểm tra bài cũ, GV giới thiệu bài 2. Nội dung *Hoạt động 1(10-12P):Hướng dẫn giải 30 https://dekiemtra.edu.vn/
bài toán liên quan đến rút về đơn vị Bài toán 1: Có 35 l mật ong chia đểu vào 7 can. Hỏi mỗi can có mấy lít mật ong? - HS đọc đề: 3 HS - Hướng dẫn HS tóm tắt bài toán - HSTL + Bài toán cho biết gì? + Bài toán hỏi gì? - HS nêu miệng tóm tắt - HS quan sát và đọc lại đề toán - GV tóm tắt trên bảng: 7 can: 35l 1 can:.. l? - HS nêu - Hướng dẫn HS phân tích bài toán để - 1HS lên bảng, lớp làm nháp Bài giải tìm phương pháp giải. - Yêu cầu HS tự giải Số lít mật ong có trong mỗi can là: 35 : 7 = 5 (l) Đáp số: 5 l mật ong. - HS nhận xét - GV nhận xét, chốt kết quả - Phép tính chia + Để tìm 1 can chứa bao nhiêu lít mật ong ta làm phép tính gì? - GV giới thiệu bước rút về đơn vị: Bài toán cho ta biết số lít mật ong có trong 7 can, yêu cầu chúng ta tìm số lít mật ong trong 1 can, để tìm được số lít mật ong trong 1 can, chúng ta thực hiện phép chia. Bước này gọi là rút về đơn vị, tức là tìm giá trị của một phần trong các phần. 31 https://dekiemtra.edu.vn/
- Giáo viên cho học sinh nêu miệng kết - HS nối tiếp nêu nhanh kết quả quả một số bài toán đơn giản để áp dụng, củng cố như: 5 bao: 300kg 1 bao: … kg? hoặc 3 túi : 15 kg - HS đọc đề: 3 HS 1 túi : … kg ? - HS nêu tóm tắt bài toán Bài toán 2: Có 35 lít mật ong cia đều - HS nhìn tóm tắt đọc đề toán vào 7 can. Hỏi 2 can có mấy lít mật ong? - GV tóm tắt trên bảng 7 can : 35 l +1 can chứa được bao nhiêu lít mật ong 2 can : … l? - Hướng dẫn học sinh phân tích bài + Lấy số lít mật ong trong 7 can chia toán: cho 7 + Muốn tính được số lít mật ong có trong 2 can ta phải biết gì? - HS nối tiếp nêu kết quả nhẩm + Lấy số lít mật ong có trong 1 can +Làm thế nào để tìm được số lít mật ong có trong 1 can? nhân với 2 + Yêu cầu học sinh nhẩm ngay 1 can: ? - 1 HS nêu bài giải + Yêu cầu học sinh nêu cách tính 2 can khi đã biết 1 can. - GV ghi bảng: Bài giải Số lít mật ong có trong mỗi can là: 35 : 7 = 5 (l) +Bước tìm số lít mật ong trong 1 can Số lít mật ong có trong 2 can là: gọi là bước rút về đơn vị. 32 https://dekiemtra.edu.vn/
5 x 2 = 10 (l) Đáp số:10l mật ong. + Trong bài toán 2 bước nào gọi là bước rút về đơn vị? - GV giới thiệu cách giải bài toán rút về đơn vị: Các bài toán có liên quan đến rút về đơn vị thường được giải bằng 2 bước: +Bước 1: Tìm giá trị một đơn vị ( giá trị - HS nhẩm thuộc 2 bước giải một phần trong các phần bằng nhau) . Thực hiện phép chia. + Bước 2: Tìm giá trị của nhiều đơn vị cùng loại( giá trị của nhiều phần bằng nhau) . Thực hiện phép nhân. - HS nêu kết quả và giải thích cách làm. - Hướng dẫn học sinh làm bài tập áp dụng: - Giáo viên nêu miệng, ghi tóm tắt lên bảng 3 túi : 45 kg 12 túi : … kg? - HS đọc và TL theo yêu cầu hoặc : 4 thùng : 20 gói - HS nhìn tóm tắt đọc đề 5 thùng : … gói? - HS cả lớp thảo luận cách làm *Hoạt động 2(10-12P): Thực hành - HS tự làm, một HSlên bảng trình bày. Bài 1: - Dạng toán liên quan đến rút về đơn vị - Gọi HS đọc và nêu yêu cầu - Bước tìm số viên thuốc có trong một - GV hướng dẫn ghi tóm tắt, tìm cách vỉ giải - HS đọc đề - HS tóm tắt bài toán 33 https://dekiemtra.edu.vn/
- GV chữa bài, nhận xét - HS trả lời + Bài toán trên thuộc dạng toán nào? - HS thảo luận và làm việc theo nhóm + Bước nào là bước rút về đơn vị? đôi. Bài 2: - GV hướng dẫn viết tóm tắt. - HS làm vở, 1HS làm bảng - HS nhận xét + Bài toán trên thuộc dạng toán nào? - Bước tìm sốgạo có trong 1 bao - HS làm xong suy nghĩ đặt một đề toán cùng dạng. - GV nhận xét chữa bài. - GV: + Trong bài toán trên, bước nào là bước rút về đơn vị? - Củng cố cách thực hiện 2 bước giải bài toán. C.Củng cố –Dặn dò:3- 4p - Học sinh tự nêu các bước, cách thực hiện giải bài toán có liên quan đến rút về đơn vị ( kiểu bài 1) - GV chốt kiến thức chính, nhận xét giờ học. Dặn dò về nhà. 34 https://dekiemtra.edu.vn/